
| Mít tố nữ | |
|---|---|
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Plantae |
| (không phân hạng) | Angiospermae |
| (không phân hạng) | Eudicots |
| (không phân hạng) | Rosids |
| Bộ (ordo) | Rosales |
| Họ (familia) | Moraceae |
| Tông (tribus) | Artocarpeae |
| Chi (genus) | Artocarpus |
| Loài (species) | A. integer |
| Danh pháp hai phần | |
| Artocarpus integer Spreng. | |
Mít quý cô, tên khoa học là Artocarpus integer, là một loại cây ăn trái thuộc họ Dâu tằm. Loài này có nguồn gốc từ Đông Nam Á, từ bán đảo Mã Lai đến Papua New Guinea. Nó cũng được trồng ở Queensland, Úc và Ấn Độ.
Tại Việt Nam, mít quý cô chủ yếu được trồng ở khu vực Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
Đặc điểm và thói quen
Mít quý cô là một cây trung bình, cao tới 20 mét và có thể ra trái hai lần trong năm ở các khu vực gần xích đạo. Cây bắt đầu cho trái khi khoảng 3 đến 5 tuổi, và mùa thu hoạch kéo dài khoảng 6 tuần.

Trái mít quý cô có hình dạng giống như quả trứng dài, với chiều dài từ 22 đến 50 cm và đường kính khoảng 10 đến 17 cm. Trọng lượng của trái thường từ 1 đến 6 kg, nhưng phổ biến là dưới 2 kg. Múi mít có thể có màu xanh, vàng hoặc cam, với hạt lớn bên trong. Hương vị của mít quý cô pha lẫn giữa mít ướt và sầu riêng. Vỏ trái dày, dẻo, có gai dẹt hình lục giác, tương tự như vỏ mít ướt.
Ứng dụng
Múi mít có thể được ăn tươi hoặc chế biến bằng cách lăn bột chiên. Đây là món ăn đặc sản ở Malaysia. Mít chiên có thể ăn kèm với cơm, trong khi mít xanh có thể được dùng như rau. Hạt của mít quý cô cũng có thể được luộc để ăn. Khác với hạt mít ướt, hạt mít quý cô không cần phải bóc vỏ.






Ghi chú
- 'Fruits of the Future: Chempedak' của David K. Chandlee [1] Lưu trữ ngày 24-03-2005 tại Archive.today
Thẻ nhận dạng đơn vị phân loại | |
|---|---|
| Artocarpus integer | |
| Radermachia integra |
|
