
Chế ngự xúc cảm tiêu cực chính là chìa khóa đem lại hạnh phúc và sự cân bằng trong thực tế, những xúc cảm bị đẩy lên mức cực đoan hoặc kéo dài quá lâu sẽ hủy hoại sự ổn định về tinh thần của ta. Tất nhiên, điều đó không có nghĩa là chúng ta chỉ nên có một loại xúc cảm duy nhất; luôn cười vui vẻ mọi lúc mọi nơi sẽ gợi nhắc đến những tấm huy hiệu mặt cười nhạt nhẽo thịnh hành hồi thập niên 1970. Vui sướng hay buồn rầu đều đem lại hương vị riêng cho cuộc sống. Một mặt, đau khổ cũng góp phần xây dựng đời sống sáng tạo và tinh thần; mặt khác, đau khổ có thể xoa dịu tâm hồn.

Ngay cả việc ghét bỏ điều gì đó cũng mang thêm gia vị cho cuộc sống. Trong phép toán của trái tim, tỷ lệ giữa xúc cảm tích cực và tiêu cực quyết định cảm giác hạnh phúc. Đó là kết luận của những nghiên cứu tâm lý được thực hiện trên hàng trăm người, họ mang theo một thiết bị nhỏ để ghi lại xúc cảm trong những thời điểm ngẫu nhiên. Hạnh phúc không có nghĩa là ta cần tránh những cảm giác khó chịu để cảm thấy hài lòng, mà chính là chế ngự những xúc cảm tiêu cực, ngăn không cho chúng chiếm chỗ của tâm trạng vui vẻ. Những người từng trải qua trạng thái giận dữ hay phiền muộn vẫn có thể cảm thấy hạnh phúc, nếu họ biết bù lại bằng những niềm vui và giây phút tuyệt vời. Những nghiên cứu này cũng cho thấy sự độc lập của trí tuệ xúc cảm với trí thông minh học thuật và kết luận gần như không có mối liên hệ nào giữa điểm số hay chỉ số IQ với cảm giác hạnh phúc của con người.
Giống như một bản ghiền trong tâm trí, có những xúc cảm thức tỉnh ta mỗi ngày và định hình hướng đi của mình. Dù ta có thể trải qua các tâm trạng khác nhau hàng ngày, nhưng khi xem xét tổng thể trong nhiều tuần hoặc tháng, những tâm trạng này thường phản ánh mức độ hạnh phúc của chúng ta. Điều này chỉ ra rằng đối với hầu hết mọi người, các cảm xúc cực kỳ mạnh mẽ là hiếm gặp; hầu hết chúng ta nằm ở giữa, với biến động tâm trạng tương đối nhỏ.
Tuy nhiên, việc kiểm soát xúc cảm cũng tốn nhiều công sức như một công việc toàn thời gian. Thực tế, hầu hết những gì chúng ta làm, đặc biệt là trong thời gian rảnh rỗi, đều là nỗ lực để kiểm soát tâm trạng của mình. Tất cả từ việc đọc sách, xem TV đến việc tập thể dục hay kết bạn đều là các cách giúp chúng ta cảm thấy thoải mái hơn. Nghệ thuật làm dịu lòng bản thân là một kỹ năng sống cơ bản; một số nhà tâm lý phân tâm học, như John Bowlby và D. W. Winnicott, coi đây là một trong những công cụ ngoại cảm quan trọng nhất. Theo lý thuyết này, trẻ em học cách tự làm dịu bản thân bằng cách đối xử với bản thân giống như người chăm sóc đối xử với họ, giúp trẻ tránh bị tổn thương trước những biến động của tâm trí cảm xúc.
Như chúng ta thấy, cấu trúc của não bộ khiến cho chúng ta thường không thể hoặc ít khi làm chủ được khi bị xúc cảm áp đặt hoặc xác định xúc cảm đó là gì. Tuy nhiên, chúng ta có thể biết được xúc cảm sẽ kéo dài bao lâu. Xúc cảm buồn, lo lắng hoặc giận dữ thoáng qua không đáng chú ý; thường chúng sẽ trôi qua theo thời gian và với sự kiên nhẫn. Nhưng khi những xúc cảm này vượt quá mức độ nhất định, chúng có thể trở thành nỗi đau cực đoan như lo sợ kéo dài, cuồng nộ hoặc trầm cảm. Khi đạt đến mức độ nghiêm trọng nhất, chúng ta phải dùng thuốc hoặc trị liệu tâm lý, hoặc thậm chí cả hai để hỗ trợ cảm xúc của mình.
Trong những thời điểm như vậy, biểu hiện của khả năng tự điều chỉnh xúc cảm là nhận biết khi nào xúc cảm trong não bộ vượt ra khỏi khả năng kiểm soát mà không cần sự giúp đỡ y tế. Ví dụ, 2/3 số người mắc chứng rối loạn lưỡng cực không bao giờ được điều trị, nhưng lithium hoặc các loại thuốc mới có thể ngăn chặn sự tiến triển của bệnh. Khi mắc chứng hưng phấn, họ cảm thấy tự tin đến mức không cần sự giúp đỡ, dẫn đến các quyết định nguy hiểm. Đối với những người mắc chứng rối loạn xúc cảm nghiêm trọng, việc sử dụng thuốc là biện pháp giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của họ.

Với những xúc cảm tiêu cực thông thường, chúng ta có thể tự chăm sóc bản thân. Tuy nhiên, điều đó không phải lúc nào cũng hiệu quả, như đã được nhà tâm lý học Diane Tice kết luận sau khi nghiên cứu hơn 400 người về cách thoát khỏi tâm trạng xấu và kết quả mà họ đạt được.
Không phải ai cũng đồng ý với ý kiến rằng cần thay đổi tâm trạng tiêu cực; nhà tâm lý học Diane Tice đã phát hiện ra một phần nhỏ các cá nhân, khoảng 5% trong số những người được khảo sát, được gọi là 'người theo chủ nghĩa tâm trạng', họ cho rằng không cần phải cố gắng thay đổi tâm trạng vì họ tin rằng tất cả cảm xúc đều tự nhiên và chúng ta cần phải trải nghiệm chúng đầy đủ, dù chúng có làm chúng ta cảm thấy mệt mỏi đến đâu. Ngoài ra, có những người phải cố tạo ra tâm trạng tiêu cực, như các bác sĩ biểu hiện buồn bã khi phải thông báo tin tức xấu cho bệnh nhân; những người làm công việc xã hội nuôi dưỡng sự tức giận trước sự bất công; và thậm chí có trường hợp thanh niên cố tình kích động cơn giận dữ để giúp đỡ em trai đối đầu với bọn bắt nạt ở sân chơi. Đôi khi, một số người biến cảm xúc thành công cụ để đạt được mục đích cụ thể, như những nhân viên hành chính cố ý thể hiện sự tức giận với những người không chịu nộp tiền phạt. Tuy nhiên, ngoại trừ những trường hợp hiếm hoi đó, phần lớn mọi người than phiền rằng họ bị tâm trạng chi phối mà không thể kiểm soát được. Ghi chú cũng cho thấy cách họ điều chỉnh tâm trạng có sự khác biệt lớn.
Trích từ cuốn sách 'Trí tuệ về cảm xúc' của Daniel Goleman
