


| Crinum asiaticum | |
|---|---|
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Plantae |
| (không phân hạng) | Angiospermae |
| (không phân hạng) | Monocots |
| Bộ (ordo) | Asparagales |
| Họ (familia) | Amaryllidaceae |
| Tông (tribus) | Amaryllideae |
| Phân tông (subtribus) | Crininae |
| Chi (genus) | Crinum |
| Loài (species) | C. asiaticum |
| Danh pháp hai phần | |
| Crinum asiaticum L. | |
Náng, còn được biết đến với các tên gọi như đại tướng quân, chuối nước, tỏi voi (danh pháp hai phần: Crinum asiaticum), là một loài thực vật thuộc họ Náng (hay còn gọi là họ Loa kèn đỏ, Amaryllidaceae). Loài cây này phân bố ở Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Việt Nam.
Đặc điểm
Mô tả: Cây thân thảo lâu năm, cao khoảng 1m, có hành (giò) cỡ trung bình, hình trứng với đường kính 5–10 cm, thon dài thành cổ dài 12–15 cm hoặc hơn. Lá mọc từ gốc, nhiều, hình dải ngọn giáo, lõm với các khía trên mép nguyên, dài hơn 1m và rộng 5–10 cm. Cụm hoa hình tán nằm ở đầu một cán dẹp dài 40–60 cm, rộng bằng ngón tay, mang 6-12 hoa hoặc nhiều hơn, màu trắng, có mùi thơm vào chiều, được bao bởi những mo dài 8–10 cm. Hoa có ống mảnh, màu lục, các phiến hoa giống nhau, hẹp, dài với 6 nhị có chỉ nhị đỏ và bao phấn vàng. Quả mọng gần hình tròn, đường kính 3–5 cm, thường chỉ chứa một hạt.
Cây thường ra hoa vào mùa hè.
Bộ phận sử dụng: Toàn cây - Herba Crini Asiatici.
Phân bố và thu hoạch: Loài này phân bố từ Ấn Độ qua Inđônêxia đến đảo Molluyc. Tại Việt Nam, cây mọc hoang ở những khu vực ẩm mát, ven rạch, và thường được trồng làm cảnh; người ta thường tách các hành con để trồng. Để dùng làm thuốc, các bộ phận của cây được thu hái quanh năm, có thể sử dụng tươi hoặc phơi khô.
Thành phần hóa học: Các bộ phận của cây, đặc biệt là hành, chứa lycorin. Rễ cây chứa alcaloid harcissin (lycorin), vitamin và các hợp chất kiềm có mùi hôi như tỏi. Hạt chứa lycorin và crinamin.
Tính chất và tác dụng: Hành của Náng có vị đắng; tác dụng bổ, nhuận tràng, và long đờm. Rễ tươi có thể gây nôn, làm mửa và làm toát mồ hôi. Hạt có tác dụng tẩy, lợi tiểu và điều hòa kinh nguyệt. Lá có tác dụng long đờm.
Trong y học cổ truyền phương Đông, Náng được coi là có vị cay, tính mát, có độc; có tác dụng thông huyết, tán ứ, tiêu sưng, giảm đau. Hành của nó có vị đắng, mùi hôi, tính nóng; có tác dụng khư phong tán hàn, giải độc và tiêu sưng.
Cách sử dụng
- Ứng dụng: Toàn cây có thể dùng để điều trị: 1. Đau họng, đau răng; 2. Đinh nhọt, viêm mủ da, loét ở móng tay hoặc chân; 3. Đau do va chạm, tổn thương các khớp xương; 4. Vết cắn của rắn. Liều dùng từ 3-10g/ngày, dạng thuốc sắc. Khi dùng ngoài, giã cây tươi để đắp lên vùng bị đau.
Tại Ấn Độ, hành của cây còn được sử dụng để điều trị thiếu mật và các rối loạn đường tiết niệu. Lá được dùng để đắp trị các bệnh ngoài da và giúp giảm sưng.
Phương pháp điều trị:
1. Đối với bong gân, sai gân do va chạm hoặc đau các khớp xương, dùng lá Náng tươi giã nát, thêm ít rượu, nướng nóng rồi đắp vào vị trí đau và băng lại.
Hoặc sử dụng 10 lá Náng, 10g lá Dây đòn gánh, 8g lá Bạc thau, giã nát và đắp lên vùng bị đau.
2. Đối với mụn nhọt, vết cắn của rắn, bệnh ngoài da hoặc trĩ ngoại, giã lá Náng tươi để đắp lên vùng bị ảnh hưởng, hoặc ép lấy nước để uống.
3. Để gây nôn, làm toát mồ hôi, hoặc long đờm, dùng hành Náng ép lấy nước, pha loãng rồi uống.
Lưu ý: Nếu vô tình ăn phải hành Náng hoặc uống nước ép đặc, có thể bị nôn mửa, đau bụng, tiêu chảy, nhịp tim nhanh, hô hấp không đều, và sốt cao. Để giải độc, có thể uống nước trà đặc hoặc dung dịch acid tannic 1-2%. Ngoài ra, uống nước đường, nước muối loãng, hoặc giấm pha với nước Gừng (tỷ lệ 2:1) cũng có tác dụng.
Ghi chú
Ảnh minh họa



