
| Cỏ hương bài | |
|---|---|
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Plantae |
| (không phân hạng) | Angiospermae |
| (không phân hạng) | Monocots |
| (không phân hạng) | Commelinids |
| Bộ (ordo) | Poales |
| Họ (familia) | Poaceae |
| Chi (genus) | Chrysopogon |
| Loài (species) | C. zizanioides |
| Danh pháp hai phần | |
| Chrysopogon zizanioides(L.) Roberty | |
Nếp cỏ thơm ngát hay cỏ thơm lau là một loài cây trong họ Hòa thảo (Poaceae), có nguồn gốc từ Ấn Độ. Tên gọi vetiver có nguồn gốc từ tiếng Tamil. Các tài liệu cổ bằng tiếng Tamil có đề cập tới việc sử dụng nếp cỏ thơm ngát cho các mục đích y học.
Nếp cỏ thơm ngát có thể mọc cao tới 1,5 m và tạo thành các bụi cây rộng gần như vậy. Thân cây cao, các lá dài, mỏng và cứng. Hoa màu tía ánh nâu. Hệ thống rễ của nếp cỏ thơm ngát mọc thẳng và sâu xuống dưới đất tới độ sâu 2–4 m.
Nếp cỏ thơm ngát khá dễ trồng, dễ sống, chịu hạn tốt, ít bị sâu bệnh, thấm nước và giữ nước. Nó vừa ưa khô vừa ưa nước, trồng được ở bất kỳ loại đất nào, không kể độ màu mỡ. Nếp cỏ thơm ngát được nhân giống bằng cụm rễ, cành giâm. Cây mọc thành bụi hay khóm lớn.
Mặc dù nó có nguồn gốc từ Ấn Độ, nhưng hiện nay nếp cỏ thơm ngát được gieo trồng rộng khắp trong khu vực nhiệt đới. Các quốc gia và khu vực sản xuất chủ yếu là Haiti, Ấn Độ, Java, Réunion.
Sử dụng
Kiểm soát sự xói mòn

Do một số đặc tính riêng của nếp cỏ thơm ngát, nó là một trong những loài thực vật có khả năng kiểm soát xói mòn tốt trong các vùng có khí hậu nóng. Không giống như hầu hết các loài cỏ khác, nếp cỏ thơm ngát có hệ thống rễ mọc thẳng sâu xuống đất tới 2–4 m. Điều này giúp nó trở thành một hàng rào ổn định cho bờ sông, vùng đất bậc thang và ruộng lúa. Cụm thân cây mọc dày đặc cũng giúp giữ nước bề mặt.
Hàng rào nếp cỏ thơm ngát có hiệu quả đệm tốt, ngăn chặn xói mòn nếu được đặt đúng vị trí trên đồng bằng. Rễ nếp cỏ thơm ngát phần lớn mọc sâu ít nhất 3 m, không gây ảnh hưởng đáng kể đến cây trồng, giúp tăng cường giữ nước ngầm và giảm thiểu lượng nước bề mặt thất thoát.
Ngoài việc là một rào hàng bảo vệ hiệu quả, cỏ hương bài cũng giúp bảo vệ các công trình đập, kênh, đường bộ, sông hồ thủy điện không bị bồi lấp, chống lũ lụt, hạn chế dòng chảy mất mùa trên diện rộng.
Ở những vùng duyên hải có gió mạnh, hàng rào cỏ hương bài làm hàng cây chắn gió tốt để bảo vệ cây ăn quả, cây gỗ nhỏ, cùng với cây dứa sợi làm băng cản lửa xanh và chống xói mòn đất, giữ nước cho đất.
Thân cây giúp làm lắng các chất bẩn đục trong nước, nước mưa từ thân chảy xuống được lọc ngấm xuống đất giúp giữ sạch nguồn nước ngầm.
Vật lý trị liệu và công nghiệp nước hoa
Cỏ hương bài được trồng chủ yếu để chưng cất tinh dầu thơm từ rễ. Sản lượng toàn thế giới khoảng 250 tấn/năm. Do tính chất hãm mùi tốt của nó nên tinh dầu hương bài được sử dụng trong một số loại nước hoa cao cấp. Nó có mặt trong khoảng 36% các loại nước hoa do các quốc gia phương tây sản xuất (nguồn: Lavania). Haiti là một trong các quốc gia sản xuất hàng đầu về tinh dầu hương bài, cùng với Java, Trung Quốc, Ấn Độ, Brasil, Nhật Bản. Các quốc gia và khu vực tiêu thụ nhiều nhất là Hoa Kỳ, châu Âu, Ấn Độ, Nhật Bản.
Thành phần
Tinh dầu cỏ vetiver zizanioides.L là một loại tinh dầu phức tạp, chứa trên 100 các thành phần đã được nhận dạng. Tuy nhiên, các thành phần chính là:
| Axit benzoic | Furfurol |
| Vetiven | Vetivenyl vetivenat |
| Terpinen-4-ol | 5-epiprezizan |
| Khusimen | α-muurolen |
| Khusimon | Calacoren |
| β-humulen | α-longipinen |
| γ-selinen | δ-selinen |
| δ-cadinen | Valencen |
| Calaren,-gurjunen | α-amorphen |
| Epizizanal | 3-epizizanol |
| Khusimol | Iso-khusimol |
| Valerenol | β-vetivon |
| α-vetivon |
Tinh dầu cỏ hương bài có màu nâu hổ phách và khá đậm đặc. Mùi của nó được miêu tả là thơm ngọt, khói, gỗ, đất, hổ phách. Tinh dầu loại tốt nhất thu được từ rễ cây 18-24 tháng tuổi. Rễ được nhổ lên, rửa sạch và phơi khô. Trước khi chưng cất, rễ được thái ra và ngâm nước. Quá trình chưng cất kéo dài khoảng 18-24 h. Sau khi chưng cất để tách riêng tinh dầu và hydrosol thì dầu được hớt váng và để ngấu khoảng vài tháng nhằm loại bỏ các tạp chất và các mùi không mong muốn sinh ra trong quá trình chưng cất. Giống như tinh dầu hoắc hương và đàn hương, mùi của tinh dầu hương bài sẽ đậm thêm cùng với quá trình để ngấu. Các đặc trưng của tinh dầu hương bài có thể khác nhau một cách đáng kể, phụ thuộc vào việc cỏ được trồng ở đâu cũng như các điều kiện về khí hậu và đất. Tinh dầu được chưng cất tại Haiti và Réunion có nhiều hương vị của hoa hơn và được đánh giá có chất lượng cao hơn so với tinh dầu sản xuất tại Java với hương vị nhiều mùi khói hơn. Tại miền bắc Ấn Độ, tinh dầu được sản xuất từ cỏ hương bài mọc hoang. Tinh dầu này được gọi tại đây là Khus hay Khas và được coi là hơn hẳn tinh dầu thu được từ cỏ hương bài do con người gieo trồng. Nó hiếm khi được tìm thấy bên ngoài Ấn Độ do phần lớn tinh dầu được tiêu thụ ngay trong quốc gia này.
- Germplasm Resources Information Network: Chrysopogon zizanioides Lưu trữ 2010-05-28 tại Wayback Machine Austrobaileya 5: 522–523. THE VETIVER NETWORK Lưu trữ 2007-10-18 tại Wayback Machine The Good Scents Company Other Uses and Utilization of Vetiver: Vetiver Oil - U.C. Lavania - Central Institute of Medicinal and Aromatic Plants, Lucknow-336 015, Ấn Độ Design Principles and Engineering Samples of Applying Vetiver Eco-Engineering Technologyfor Step Slope and Riverbank Stabilisation - Chengchun Ke, Ziyuan Feng, Xijing Wu và Figen Tu E. Guenther: The Essential Oils, Vol. 4 (New York: Van Nostrand Company INC, 1990), 178-181, cited in Salvatore Battaglia, The Complete Guide to Aromatherapy (Australia: The Perfect Potion, 1997), 205.] Christopher McMahon: Ruh Khus(Wild Vetiver Oil)/Oil of Tranquility
