Kinh tế đại dương (Kinh tế biển – Ocean Economy) bao gồm các hoạt động kinh tế theo ngành và liên ngành liên quan đến biển, đại dương, và vùng ven biển. Nó bao gồm các hoạt động diễn ra trên biển, các hoạt động khai thác nguồn lực từ biển, và các hoạt động hỗ trợ cho các hoạt động kinh tế trên biển nhằm phục vụ nhu cầu con người và mang lại lợi ích cho nền kinh tế quốc gia và vùng lãnh thổ. Những hoạt động này có thể xảy ra ở bất kỳ đâu, kể cả các vùng xa biển.
Kinh tế biển bền vững
Tại nhiều quốc gia, kinh tế biển, hay còn gọi là kinh tế xanh (blue economy), là một nền kinh tế tập trung vào việc khai thác lợi ích từ đại dương, dựa trên sự đa dạng sinh học, hệ sinh thái biển, các loài sinh vật, và tài nguyên dưới đáy biển, đồng thời chú trọng đến các hoạt động bảo tồn và phát triển bền vững.
Những lĩnh vực của kinh tế biển
Các hoạt động kinh tế trên biển
- Vận tải biển và dịch vụ cảng
- Đánh bắt hải sản
- Nuôi trồng thủy sản dưới biển
- Khảo sát và khai thác dầu khí cùng tài nguyên khoáng sản biển
- Dịch vụ và du lịch biển
- Chế biến muối
- Tìm kiếm, cứu hộ và cứu nạn
- Kinh tế các đảo
Những hoạt động kinh tế liên quan đến tài nguyên biển
- Chế biến sản phẩm hải sản
- Chế biến và xử lý dầu khí
Các hoạt động hỗ trợ kinh tế biển
- Đào tạo nhân lực chuyên môn
- Sửa chữa và đóng mới tàu biển
- Cung cấp các dịch vụ hàng hải
- Thông tin và truyền thông trên biển
- Nghiên cứu và phát triển công nghệ biển
Các lĩnh vực kinh tế biển mới nổi
- Nuôi trồng thủy sản biển
- Khai thác dầu và khí từ các vùng biển sâu và cực sâu
- Năng lượng gió biển
- Năng lượng tái tạo từ đại dương
- Khai thác khoáng sản dưới đáy biển
- An toàn hàng hải và giám sát
- Công nghệ sinh học đại dương
- Sản phẩm và dịch vụ biển công nghệ cao
Kinh tế biển tại Việt Nam
Đặc điểm địa lý
Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km, tỷ lệ chiều dài bờ biển so với diện tích biển cao hơn nhiều so với mức trung bình toàn cầu. Quốc gia này đã công nhận vùng đặc quyền kinh tế biển 200 hải lý và thềm lục địa tại khu vực Đông Nam Á, phê chuẩn UNCLOS vào ngày 23 tháng 6 năm 1994 trước khi Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS) 1982 có hiệu lực vào ngày 16 tháng 11 năm 1994.
Vùng biển của Việt Nam nằm trong biển Đông và bao gồm nhiều khu vực như vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái Lan, hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, cùng với một số đảo và quần đảo khác. Có khoảng 2.773 đảo lớn và nhỏ, chủ yếu tập trung ở vịnh Bắc Bộ, với phần còn lại phân bố ở các vùng biển Bắc Trung Bộ, Trung Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nam; bao gồm 15 khu bảo tồn biển.
Các tỉnh và thành phố ven biển gồm: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang.
Đóng góp vào nền kinh tế
Hầu hết các hoạt động phát triển kinh tế – xã hội liên quan đến biển và đảo hiện nay được thực hiện theo nguyên tắc quản lý tổng hợp phù hợp với hệ sinh thái biển, với sự phát triển bền vững của các ngành kinh tế biển theo các chuẩn mực quốc tế; kiểm soát khai thác tài nguyên biển trong khả năng phục hồi của hệ sinh thái biển; đóng góp khoảng 10% GDP quốc gia; kinh tế của 28 tỉnh, thành phố ven biển chiếm khoảng 65 – 70% GDP cả nước.
Khu bảo tồn biển
Việt Nam hiện có 15 khu bảo tồn biển:
- Đảo Trần – Quảng Ninh
- Cô Tô – Quảng Ninh
- Cát Bà – Hải Phòng
- Đảo Bạch Long Vĩ – Hải Phòng
- Hòn Mê – Thanh Hóa
- Đảo Cồn Cỏ – Quảng Trị
- Sơn Trà Hải Vân – Thừa Thiên Huế
- Cù Lao Chàm – Quảng Nam
- Đảo Lý Sơn – Quảng Ngãi
- Hòn Mun – Khánh Hòa
- Hòn Cau – Bình Thuận
- Đảo Phú Quý – Bình Thuận
- Nam Yết – Trường Sa – Khánh Hòa
- Côn Đảo – Bà Rịa – Vũng Tàu
- Phú Quốc – Kiên Giang
Các bài viết liên quan
- Danh sách các tỉnh ven biển tại Việt Nam
- Công ước Liên Hợp Quốc về luật biển
- Khai thác thủy sản bất hợp pháp (IUU)
- Khu vực bảo tồn biển
- Hiện tượng trượt mong
