
Giống như nhiều bài thơ viết vào thế kỷ 6 TCN, đoạn thơ dưới đây nằm trong Đạo Đức Kinh, thể hiện tư tưởng ngược lại với thông thường khi cho rằng “không làm gì” là quyền năng chính trị hiệu quả nhất:
Trị nước bằng chính trị, chiến đấu bằng chiến thuật, [nhưng cả hai cách đó đều không phù hợp], chỉ có vô sự mới làm nên thiên hạ.
Vì sao lại biết như vậy? Do điều này: Thiên hạ càng nhiều lệnh cấm thì dân càng nghèo (vì sợ phạm tội); triều đình càng nhiều “lợi khí” (tức quyền mưu?) thì quốc gia càng hỗn loạn; người trên càng nhiều kỹ xảo thì việc xấu càng sinh ra nhiều; pháp lệnh càng nghiêm khắc thì đạo tặc càng nổi.
Do đó thánh nhân nói: ta không làm gì (vô vi) mà dân tự cải hóa, ta ưa thanh tịnh mà dân tự nhiên thuần chính, ta không ban giáo lệnh mà dân tự phú túc, ta vô dục mà dân tự trở nên chất phác.

Chiết tự của từ Đạo là “con đường”, là lối đi và Đạo Đức Kinh được hiểu là “cuốn sách cổ về Con đường và Năng lực của nó”. Cuộc đời của Lão tử và nguồn gốc của Đạo Đức Kinh vẫn còn là chủ đề của nhiều tranh luận và nghiên cứu. Tuy nhiên, chắc chắn rằng tác phẩm đã ra đời ít nhất 4 thế kỷ trước khi Chúa Giêsu giáng sinh.
Đạo Đức Kinh là kinh điển chính của Đạo giáo, và triết lý chính trị của Đạo giáo có xu hướng vô chính phủ hơn so với Nho giáo. Đạo Đức Kinh coi trọng sự tự do, tự do kinh tế và việc cai trị hạn chế, không can thiệp vào cuộc sống của dân chúng là lý tưởng chính trị phù hợp với Đạo.
Vậy Đạo là gì? Dường như Lão Tử đã cố gắng ngăn chặn mọi nỗ lực định nghĩa nó:
Đạo mà có thể diễn tả được thì không phải là đạo vĩnh cửu bất biến; tên mà có thể đặt ra để gọi nó [đạo] thì không phải là tên vĩnh cửu bất biến. “Không” là chỉ cái gốc của trời đất; “Có” là mẹ sinh ra vạn vật. Vì vậy, thường ở chỗ “không” để thấy được cái vi diệu của đạo; thường ở chỗ “có” để thấy được cái dụng vô biên của nó. Hai thứ đó [không và có] đều từ đạo mà ra nhưng khác tên, đều huyền diệu. Huyền diệu rồi lại thêm huyền diệu, đó là cửa của mọi biến hóa kỳ diệu.

Nghịch lý thay, người hiểu biết Đạo lại cho rằng Đạo là cái vô danh, không thể gọi tên. “Càng nói nhiều lại càng bế tắc, không bằng giữ sự tĩnh lặng.”
Trị nước cũng phải như vậy, theo Đạo thì hành động cần ở mức tối thiểu, không cố kiểm soát những gì ngoài tầm với của Nhà nước hay bất kỳ ai.
Dân đói vì nhà cầm quyền thu thuế quá nặng, cho nên dân đói. Dân khó trị vì nhà cầm quyền ban hành chính sách phiền hà, cho nên dân khó trị. Dân coi thường cái chết vì nhà cầm quyền tự phụng dưỡng quá mức, cho nên dân coi thường cái chết. Nhà cầm quyền vô dục, sống đạm bạc thì tốt hơn là chăm lo cuộc sống xa hoa.

Dưới đây là một số đoạn trích từ Đạo Đức Kinh nói về bậc trị nước lý tưởng - tiếng nói mạnh mẽ và tốt đẹp đã vang lên suốt hàng nghìn năm. Sai lầm là khi cố gắng biến một triết thuyết cổ đại phức tạp thành những khái niệm hấp dẫn, hoặc đọc một cách đơn giản. Hãy để những trích đoạn này là khởi đầu cho những ai chưa từng nghiên cứu sâu về Đạo Đức Kinh hay Đạo học:
Bậc trị dân giỏi nhất thì dân không biết có vua, thấp hơn là dân yêu quý và khen ngợi; thấp hơn nữa là dân sợ; thấp nhất là bị dân khinh. Vua không thành tín thì dân không tin. Nhàn nhã, ung dung [vì vô vi] mà quý trọng lời nói. Vua hoàn thành việc, việc xong rồi mà trăm họ đều bảo: “Tự nhiên mình được vậy”.
Người giữ đạo phò vua không dùng binh lực để mạnh hơn thiên hạ. Vì việc như vậy thường quay ngược lại [hiếu chiến thì lại chết vì chiến tranh]. Quân đội đóng ở đâu, gai góc mọc ở đó. Sau chiến tranh lớn, tất nhiên mất mùa. Vật gì cũng vậy, mạnh mẽ rồi sẽ già, như vậy cường tráng là không hợp với đạo. Không hợp đạo thì sớm chết.
Binh khí là vật bất tường (chẳng lành, gây họa), ai cũng ghét nên người giữ đạo không thích dùng. Người quân tử ở nhà trọng bên trái, khi dùng binh trọng bên phải. [Binh khí là vật bất tường, không phải của người quân tử, nên bất đắc dĩ dùng, mà dùng thì điềm đạm (bình tĩnh, giữ hòa khí, tránh cực đoan) là hơn cả. Thắng cũng không cho là hay, nếu cho là hay tức là thích giết người. Kẻ thích giết người thì không thực hiện được lý tưởng trị thiên hạ]. Việc lành thì trọng bên trái, việc dữ trọng bên phải. Phó tướng bên trái, thượng tướng bên phải, nghĩa là coi việc dùng binh như một tang lễ. Giết nhiều người thì nên bi ai mà khóc; chiến thắng thì nên coi như tang lễ.
Trị nước lớn cũng như nấu cá nhỏ (nấu cá nhỏ mà lật nhiều quá, nó sẽ nát; trị nước lớn mà chính lệnh phiền hà, pháp lệnh thay đổi nhiều, can thiệp vào việc dân nhiều, dân sẽ trá ngụy, chống đối).
Nước lớn nên ở chỗ thấp, chỗ quy tụ của thiên hạ, nên giống cái trong thiên hạ. Giống cái nhờ tĩnh mà thắng giống đực [ham động], lấy tĩnh làm chỗ thấp. Nước lớn khiêm hạ đối với nước nhỏ thì được nước nhỏ xưng thần; nước nhỏ khiêm hạ đối với nước lớn thì được nước lớn che chở. Như vậy là một bên khiêm hạ để được [nước nhỏ xưng thần], một bên khiêm hạ mà được [nước lớn che chở]. Nước lớn chỉ muốn nuôi nước nhỏ, nước nhỏ muốn thờ nước lớn. Khiêm hạ thì cả hai đều được như ý; nhưng nước lớn phải khiêm hạ mới được.
Dân không sợ uy hiếp (tức hà chính, bạo hình) của vua thì uy hiếp lớn sẽ đến với vua (tức dân sẽ nổi loạn). Đừng bó buộc đời sống dân (để dân an cư), đừng áp bức cách sinh nhai của dân. Vì không áp bức dân nên dân không bức lại vua (không phản kháng). Vì vậy thánh nhân biết quyền năng của mình mà không biểu lộ, yêu đức của mình mà không tự tôn. Cho nên bỏ cái sau (tự hiện, tự quý) mà giữ cái trước (tự tri, tự ái).
Theo FFE
Khánh Huyền (biên dịch)
Những đoạn trích từ Đạo Đức Kinh được trích từ bản dịch của Nguyễn Hiến Lê.
