Hát văn, còn được gọi là chầu văn, hát hầu đồng, hoặc hát bóng, là một hình thức nghệ thuật ca hát truyền thống của Việt Nam. Đây là loại hình âm nhạc lễ nghi liên quan đến nghi thức hầu đồng trong tín ngưỡng Tứ phủ (Đạo Mẫu) và thờ Đức Thánh Trần (Đức Thánh Vương Trần Hưng Đạo), thuộc tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Với âm nhạc tâm linh và lời văn nghiêm trang, chầu văn được coi là hình thức ca hát phục vụ thánh thần. Hát văn bắt nguồn từ đồng bằng Bắc Bộ.
Thời kỳ huy hoàng nhất của hát văn là vào cuối thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20. Trong giai đoạn này, thường tổ chức các cuộc thi để tuyển chọn người hát cung văn. Tuy nhiên, từ năm 1954, hát văn dần bị lãng quên do việc cấm hầu đồng vì bị coi là mê tín dị đoan. Đến những năm 1990, hát văn bắt đầu được phục hồi và phát triển. Các trung tâm hát văn chính là Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình và một số khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Nghệ thuật chầu văn hiện đang được bảo tồn và đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể. Nghi lễ chầu văn của người Nam Định và toàn Việt Nam đã được đưa vào danh sách 33 di sản văn hóa phi vật thể (đợt 1) và được công nhận là Di sản thế giới. Tại Huế cũng có hình thức chầu văn, nhưng với giai điệu khác biệt so với các tỉnh Bắc Bộ.
Phân loại
Hát văn có nhiều hình thức biểu diễn như hát thờ, hát thi, hát hầu (phục vụ nghi lễ hầu đồng), và hát văn tại cửa đền, cửa đình:
- Hát thờ: được thực hiện trong các dịp lễ hội, ngày kỷ niệm thánh (như ngày sinh thánh, ngày thánh hóa...) và trước khi tiến hành các giá văn trong nghi thức hầu đồng.
- Hát hầu, trong nghi lễ tứ phủ yêu cầu ba giá tam tòa Thánh Mẫu và không có nghi thức tung khăn, chỉ thực hiện hầu tráng bóng. Các giá tung khăn thường bắt đầu từ hàng Quan Lớn trở xuống. Trong tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần, có thể hầu tứ phủ hoặc hầu riêng, nếu hầu tứ phủ thì thỉnh tam tòa Thánh Mẫu đầu tiên, nếu hầu riêng thì thỉnh đức Thánh Vương Trần Triều đầu tiên. Một số bài hát văn hầu phổ biến bao gồm 'Cô Đôi Thượng Ngàn', 'Văn khấn Thiên Y A Na',...
- Hát văn tại cửa đền, đình: thường thấy ở các đền phủ vào đầu năm mới và các lễ hội. Các cung văn hát để phục vụ khách hành hương, thường là những bài văn liên quan đến vị thánh thờ tại đền, đình và theo yêu cầu của khách. Lời ca có thể được coi là một bài văn khấn cầu cho những mong ước của khách hành hương. Ví dụ về một đoạn văn: 'Con đi cầu lộc cầu tài. Cầu con cầu của gái trai đẹp lòng. Gia trung nước thuận một dòng. Thuyền xuôi một bến vợ chồng ấm êm. Độ cho cầu được ước nên. Đắc tài sai lộc ấm êm cửa nhà. Lộc gần cho chí lộc xa. Lộc tài lộc thọ lộc đà yên vui.'
Hát chầu văn ở cửa đình rất phổ biến tại Huế, nơi các cung văn thường hát những bài ca ngợi thành hoàng làng và cầu phúc cho cộng đồng. Nhạc Cung đình và nhạc Nghi lễ, trong nghi thức hầu đồng, đã hình thành nên thể loại nhạc mới gọi là nhạc Chầu văn, kết hợp với tín ngưỡng thờ Mẫu và có phần khác biệt so với âm nhạc truyền thống của Huế.
Nhạc Chầu văn là quá trình chuyển đổi lời của các bài văn chầu, thường được viết theo thể thơ lục bát hoặc song thất lục bát, thành giai điệu nhạc. Nội dung của nhạc Chầu văn thường ca ngợi các vị Tiên – Thánh – Thần, những người đã giúp dân chống giặc ngoại xâm và hỗ trợ trong các hoạt động sản xuất, hiện đang được thờ tự trong tín ngưỡng thờ Mẫu.
Chầu văn Huế có những đặc điểm riêng biệt, dựa trên hệ thống thang âm cổ truyền (thang năm âm – ngũ cung) của khu vực Bắc Trung Bộ và Việt Nam. Nó có sự biến đổi không ổn định trong thang âm, phụ thuộc vào cách hát, kỹ thuật nhấn và rung của cung văn.
Nhịp điệu cũng góp phần tạo nên đặc trưng của chầu văn. Nhịp 2/4 là phổ biến nhất, trong khi nhịp 3/7 ít được sử dụng, thường chỉ xuất hiện trong các bài văn thỉnh Hội đồng. Ngoài những làn điệu chính như giọng Phú, Sắp, Thượng, Đài, Quảng, Cờn, chầu văn còn kết hợp với các thể loại biến thể, kế thừa từ các làn điệu dân ca miền Bắc như Long lành, Trống quân, Ta lý, hát Thượng.
Hầu đồng là nghi lễ cho phép các vị Thánh Tứ Phủ nhập vào cơ thể của ông Đồng bà Cốt. Trong nghi lễ này, hát văn đóng vai trò quan trọng trong quá trình nhập đồng và hiển thánh. Sau khi các thánh đã múa, họ thường ngồi nghe cung văn hát để kể về lai lịch của vị thánh đang giáng. Đối với các giá ông Hoàng, cung văn sẽ đọc các bài thơ cổ. Thánh thể hiện sự hài lòng bằng cách gật đầu và thưởng tiền cho cung văn. Đồng thời, thánh cũng dùng các lễ vật như rượu, thuốc lá, trầu nước mà người hầu đồng dâng, và các lễ vật này cần được thực hiện nghi thức khai cuông (khai quang) để thanh sạch.
Trình bày
Thứ tự trình diễn
- Nghi lễ hát chầu văn trong hầu đồng có thể được chia thành bốn giai đoạn chính:
- Mời thánh nhập
- Kể lại sự tích và công đức
- Cầu xin thánh phù hộ
- Đưa tiễn thánh
Bài hát thường kết thúc với câu: 'Xe loan thánh giá về lại cung!'
Cung văn ngồi ở một bên, trong khi người hầu bóng, hay còn gọi là đệ tử thánh, ngồi trước bàn thờ. Bên cạnh cung văn có nhạc công chơi nhạc và ban phụ họa hát theo. Còn bên cạnh đệ tử thánh có người phụ trách chuẩn bị khăn áo sao cho khi thánh nhập, trang phục phải phù hợp với giá đồng. Những người phụ việc cũng lo các lễ vật dâng cúng và lộc thánh để phát cho khách đến dự lễ.
Nội dung lời chầu văn

Chầu văn sử dụng nhiều thể loại thơ khác nhau như thơ thất ngôn, song thất lục bát, lục bát, nhất bát song thất (gồm một câu tám chữ và hai câu bảy chữ), hát nói…
Lời của các bài văn thường ca ngợi công đức, kể lại sự tích của các thánh, khen ngợi vẻ đẹp và sự phong lưu của các vị, đồng thời mô tả cảnh vật và xin được ban phước.
Các ví dụ minh họa: - Thể thơ thất ngôn: (trích đoạn trong văn công đồng)
森森鶴駕從空下
Sâm sâm hạc giá từ trên không hạ xuống
Lạc quan xe loan chật kín trước
Xe loan rực rỡ đầy ngự trước mặt
Không ngừng tỏa uy vũ và sức mạnh thần linh
Không ngừng phát huy uy lực và thần thánh
Chứng minh công đức vô hạn
Chứng minh công đức vô hạn
- Thể thơ song thất lục bát: (Trích từ văn Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên) Nơi cung điện, mây quấn ánh trăng
Cảnh trời cao gió nhẹ mang hương
Chín tầng mây trời rộng lớn
Thiên Tiên Đệ Nhất hiện đang ngự tại trung cung
Gió đông nhẹ nhàng thổi qua, hương lan tỏa
Đoàn tiên đang chờ đón từ sớm mai
Cảnh sắc lộng lẫy, rộn ràng nơi đây
Mẫu Chính cung đang ngự, mọi thứ được chuẩn bị kỹ lưỡng
- Thể thơ lục bát: (Trích từ văn Chầu Đệ Nhị)
Gió thổi rì rào trên ngàn cây
Dưới suối cá bơi, chim vút về phía xa
Đêm khuya trăng lặn, sao cũng tắt dần
Thuyền bán nguyệt chèo chậm rãi vào bến
Cảnh vật gập ghềnh, quán nhỏ và lầu cao
Khi xuống núi, đỏ rực giữa xanh ngát
Thượng Ngàn Đệ Nhị, nơi linh thiêng nhất
Ngôi cao quyền lực của công chúa núi non
- Thể song thất nhất bát (Trích từ văn Cô Bơ Thoải)
Nhang thơm nghi ngút, trống điểm ba lần
Con xin dâng lên bản văn mời gọi
Kể lại sự tích của công chúa Thoải Cung
Từ tiền kiếp sinh sống tại cung điện trên trời
Hóa thân về trung tâm Động Đình
Hạ sinh xuống, con của vua Thoải tộc
Dấu hiệu trời ban phúc, hương thơm nhẹ bay
Trăng tròn đầy, hoa nở khắp phương
Da như tuyết, tươi sáng và mịn màng
- Thể hát nói: (Trích văn Quan Đệ Nhị)
Nhìn lên tòa vàng lấp lánh, san sát
Chẳng đâu đẹp bằng Phố Cát, Đồi Ngang
Đá lởm chởm, nước chảy róc rách
Cảnh vật như tranh với cỏ và hoa
Nhạn chiều đơn độc bay về,
Trên sườn núi, chim sẻ líu lo.
Nước dưới khe ngân vang tiếng đàn
Trên đỉnh núi, tùng reo, trống điểm
Sòng Sơn lấp lánh, kiêu sa và huyền bí
Nước thanh mát chiếu rọi tâm hồn
Núi cao vút, nước sâu thẳm
Đây chính là nơi hội tụ của non nước và trí tuệ
Âm nhạc Hát văn đóng vai trò thiết yếu trong lễ hầu đồng, là phần không thể thiếu để mời gọi các vị Thánh về. Những lời ca và tiếng nhạc của cung văn không chỉ tạo sự sống động cho buổi lễ mà còn kéo dài từ 4-8 tiếng với các nghệ sĩ thay nhau hát và chơi nhạc cụ
Nhạc cụ chính bao gồm đàn nguyệt, guitar phím lõm, trống ban, trống đế, phách, cảnh, thanh la, sinh tiền, chén gõ (hầu văn Huế) cùng với nhiều nhạc cụ khác như trống cái, sáo, đàn nhị, kèn bầu, chuông, mõ và đàn bầu
Hát văn thường liên quan đến ba địa danh là Hà Nam, Hà Nội và Nam Định. Trong đó, hát văn Hà Nội thường bay bướm và phức tạp hơn, còn hát văn Nam Định lại có phần đơn giản và mộc mạc hơn
Điệu nhạc và tiết tấu
Về mặt tiết tấu, hát văn thường áp dụng nhịp ngoại (đảo phách), tạo ra cảm giác không ổn định cho người nghe, làm cho tâm trí trở nên mông lung và huyền bí.
Hát chầu văn sử dụng nhiều kiểu điệu (hay còn gọi là lối hát, cách hát). Người xưa gọi các điệu này là cách 格. Ví dụ, điệu bỉ gọi là bỉ cách, điệu dọc gọi là dọc cách…
Các điệu hát văn cơ bản bao gồm: Bỉ, Miễu, Thổng, Phú Bình, Phú Chênh, Phú Nói, Phú rầu, Đưa Thơ, Vãn, Dọc, Cờn Xá, Kiều Dương, Hãm, Dồn, điệu kiều thỉnh, Hát Sai (Hành Sai), và ngâm thơ. Còn có nhiều điệu khác như hát nói trong ca trù, hát then, hò Huế, cải lương,...
Mỗi giá hầu thường có các điệu hát riêng biệt. Ví dụ, các giá về Thiên phủ hay Địa phủ thường dùng dọc và phú, giá về Thoải phủ thường dùng cờn, trong khi các giá Nhạc Phủ sử dụng điệu Xá.
- Bỉ có sắc thái trang nghiêm, được sử dụng để mở đầu hát văn thờ. Thông thường, điệu Bỉ được hát theo thể thơ thất ngôn tứ cú hoặc thất ngôn bát cú, nhưng cũng có thể hát trên các thể thơ khác như song thất lục bát. Trong các bản sự tích chư thánh, đoạn bỉ thường giới thiệu tóm tắt nội dung chính của bản văn. Các đoạn bỉ thường sử dụng câu đối nhau (biền ngẫu) và chỉ xuất hiện trong hát văn thờ, không có trong hát văn hầu đồng. Bỉ theo dây lệch và nhịp dồn phách.
- Miễu là lối hát trang trọng, chỉ được dùng trong hát thi và hát thờ, không bao giờ dùng trong Hầu Bóng. Miễu theo dây lệch và nhịp đôi.
- Thổng chỉ dành cho văn thờ và văn thi, theo dây bằng và nhịp ba.
- Phú Bình dành riêng cho hát văn thờ, rất nghiêm trang và ca ngợi các nam thần. Phú Bình theo dây lệch và nhịp ba.
- Phú Chênh là lối hát buồn, thường dùng trong các cảnh chia ly. Được lấy theo dây bằng, nhịp ba.
- Phú nói (mượn từ thể cách hát nói trong ca trù): dùng để mô tả cảnh gặp gỡ, trò chuyện. Dùng trong hát văn thờ, văn thi và hầu bóng. Theo dây bằng, nhịp ba hoặc không có nhịp mà chỉ dồn phách.
- Phú rầu là lối hát buồn, theo dây bằng nhưng nhịp đôi.
- Đưa thơ theo dây bằng, nhịp ba và dồn phách, chủ yếu dồn phách.
- Vãn theo dây bằng, nhịp đôi, hát theo lối song thất lục bát và vay trả (vay câu trước, trả lại trong câu sau).
- Dọc theo dây bằng, nhịp đôi, hát theo lối song thất - lục bát và nguyên tắc vay trả. Nếu hát từng câu gọi là nhất cú, nếu hát liền hai câu gọi là 'Dọc gối hạc' hay 'Dọc nhị cú'.
- Cờn dùng để ca ngợi vẻ đẹp của các nữ thần. Cờn theo dây lệch, nhịp đôi, có thể hát theo dây bằng nhưng chủ yếu là dây lệch (biến hóa).
- Hãm theo dây bằng, nhịp đôi, là lối hát khó vì phải hát liền song thất lục bát. Có kỹ thuật Hạ Tứ Tự, mượn bốn chữ của trổ sau và trả lại khi sang trổ mới.
- Dồn theo dây bằng, nhịp ba.
- Xá là một trong những điệu quan trọng nhất khi hát văn hầu bóng (cùng với Cờn, Dọc, Phú nói). Xá đặc trưng cho các giá nữ thần miền thượng.
Hát chầu văn có thể kết hợp với các điệu nhạc truyền thống khác như xẩm, quan họ, ca Huế, cải lương (dân ca Nam Bộ), và cả những bài hát của các dân tộc thiểu số.
Những đoạn hát được ngắt quãng bởi các đoạn nhạc không lời, gọi là lưu không.
Các nghệ nhân hát văn nổi bật
Hà Nội
Nghệ nhân Cả Mã
Nghệ nhân Vĩnh Hàng Tre - Tâm Cẩn
Nghệ nhân Phạm Văn Kiêm: Ông đã đóng góp lớn trong việc bảo tồn và sáng tác nhiều bản văn, cùng với việc thu âm và cống hiến hết mình cho nghệ thuật này. Tư liệu ông để lại vào cuối những năm 1980 đã hỗ trợ tác giả Lê Y Linh trong việc viết cuốn 'Cung văn và Điện thần', bản dịch của luận án tiến sĩ âm nhạc tại trường Sorbonne, Paris.
Nghệ nhân Hoàng Trọng Kha: Trước đây, ông đã tham gia vào đoàn cải lương với vai trò nhạc công.
Nghệ nhân Lê Bá Cao (Thường Tín, Hà Nội)
Nghệ nhân Bạch Phượng: Đã thực hiện thu âm tại Đài Tiếng Nói Việt Nam.
Các nghệ sĩ Thanh Long, Khắc Tư, Trọng Quỳnh và NSƯT Xuân Hinh
Nam Định
NSND Bùi Trọng Đang: Nghệ sĩ chèo lừng danh, thành thạo đàn và hát chầu văn
NSƯT Kim Liên và Thế Tuyền: Cặp đôi nổi tiếng của hát và đàn quê Nam Định, từng làm việc tại Đài Tiếng Nói Việt Nam
Sài Gòn
Nhóm nghệ sĩ nữ Thanh Nhàn
Nghệ nhân Thu Thủy và Huy Dự
Thông tin bổ sung
Chầu văn cũng xuất hiện trong các bộ phim và bài hát Việt Nam, ví dụ như trong bài hát 'Nghe em câu hát văn chiều nay' của nhạc sĩ Nguyễn Cường, hay đoạn hát văn 'Tống Biệt' trong phim 'Mê Thảo, thời vang bóng' và 'Long Thành cầm giả ca'
Một số tác phẩm nổi bật
- Cô Đôi Thượng Ngàn
- Huế với vẻ đẹp quyến rũ
Chú thích thêm
Các liên kết hữu ích

- Trang web Hát văn của Đài Tiếng nói Việt Nam Lưu trữ vào ngày 18 tháng 7 năm 2006 tại Wayback Machine
Âm nhạc cổ truyền của người Kinh | |
|---|---|
Dân ca Việt Nam | |
|
