Đề bài: Từ bài thơ 'Việt Bắc', hãy phân tích về cảm xúc của những người ra đi để thấy rõ tình cảm sâu sắc, lòng trung thành giữa những cán bộ về phía và những người dân của chiến khu.
I. Các điểm chính
II. Bài mẫu
Văn bản phân tích cảm xúc của những người ra đi trong bài thơ 'Việt Bắc' của Tố Hữu
I. Cấu trúc phân tích cảm xúc của những người rời bỏ trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
1. Khởi đầu
- Giới thiệu tổng quan về tác giả và tác phẩm.
2. Phần chính
a. Cảm xúc hoài niệm, lưu luyến, khắc sâu trong khung cảnh chia ly
- Từ 'ai' - một đại từ phổ biến trong văn học dân gian, tác giả đã khéo léo sử dụng để tạo ra một không gian mơ hồ, u tối, mơ màng.
b. Nỗi nhớ về thiên nhiên và con người ở Việt Bắc
- Người ra đi khắc sâu hình ảnh thiên nhiên và những kỷ niệm, những ngày tháng đầy gian truân, khó khăn, nghèo đói tại Việt Bắc.
+ Hồi tưởng về vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên, với hình ảnh trăng lên, nắng chiều, và hình ảnh của cuộc sống hàng ngày, như người mẹ Việt Nam lao động chăm chỉ, những bức tranh của các lớp học tối...
- Nhớ về tranh tứ bình, nhớ về 'hoa và con người'
+ Tranh mùa đông: trên nền xanh rực rỡ, hoa chuối rừng đỏ tươi được vẽ lên, cùng với hình ảnh của con người có vẻ năng động - họ đang kiểm soát thiên nhiên, kiểm soát cuộc sống.
+ Tranh mùa xuân: đầy sức sống với hoa mơ trắng, và hình ảnh của con người thực sự tỉ mỉ, cẩn thận, khéo léo với công việc mài gióng.
3. Kết luận
Tóm tắt lại những điểm chính về cảm xúc của những người ra đi được thể hiện trong bài thơ và phản ánh ý kiến, cảm nhận cá nhân.
II. Mẫu văn Phân tích cảm xúc của những người rời bỏ trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
Tố Hữu không chỉ là một nhà cách mạng mà còn là một trong những nhà thơ nổi tiếng, xuất sắc của văn học Việt Nam. Với những bài thơ đậm chất tâm linh, kết hợp hoàn hảo giữa tinh thần cách mạng và tình yêu đất nước, tác phẩm của ông đã ghi dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc. Bài thơ 'Việt Bắc', ra đời vào tháng 10 năm 1954, đồng thời với việc chính quyền Trung ương, Chính phủ rời Việt Bắc về Hà Nội, là một trong những tác phẩm nổi bật của Tố Hữu. Đọc bài thơ, người đọc sẽ cảm nhận được lòng trung thành, nỗi nhớ của những người ra đi với vùng đất này.
Trước hết, các dòng thơ đầu tiên của bài thơ đã mở ra một cảnh chia tay đầy lưu luyến, trong đó câu hỏi của người ở lại 'Mình về mình có nhớ ta' làm hiện lên không khí lắng đọng, đong đầy nỗi nhớ, kỷ niệm trong suốt 'mười lăm năm ấy'. Điều này thể hiện một cách rõ ràng tâm trạng bâng khuâng, bịn rịn, quyến luyến của người ra đi.
Tiếng ai thầm thì bên bờ sông
Trong lòng rối rít, hồi hộp bước đi.
Áo chàm tay nhau biết nói gì
Nhìn nhau hiểu, hôm nay phải xa nhau.
Chỉ với bốn câu thơ nhưng có lẽ đã đủ để diễn tả hết tâm trạng của người ra đi trong khoảnh khắc chia ly. Đại từ 'ai' - một đại từ thường gặp trong văn học dân gian, tác giả đã khéo léo sử dụng để tạo ra một không gian mơ hồ, u tối, mơ màng trong kỷ niệm của người ra đi. Thêm vào đó, tác giả đã sử dụng từ ngữ 'bâng khuâng', 'rối rít' để diễn đạt trực tiếp dòng cảm xúc, dòng sóng của nỗi nhớ lưu luyến đang trào dâng của người ra đi. Đặc biệt, hình ảnh 'tay nhau biết nói gì hôm nay' có lẽ đã thực sự để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Có cái gì đó đắng cay, có cái gì khắc khoải và cảm xúc, nỗi niềm cảm xúc trong khoảnh khắc đó khiến người ta không thể nói lên, không biết bắt đầu từ đâu để có thể nói hết được tâm trạng của mình. Tất cả, tất cả những hành động ấy chỉ có thể được giải thích bởi sự gắn bó sâu đậm, tình cảm của người ra đi và người ở lại trong suốt khoảnh khắc 'mười lăm năm'. Khoảng thời gian đó là một thời kỳ nghĩa tình, là một thời gian 'tình ta sau trước mặn mà đậm đà'. Khoảng thời gian ấy đủ dài, đủ gắn bó để khi chia tay người ta cảm thấy nặng nề, cảm thấy lo lắng, bịn rịn và lưu luyến.
Nhưng có lẽ không chỉ dừng lại ở sự lưu luyến đó, trong tâm trạng của người ra đi còn hiện hữu cả nỗi nhớ - một nỗi nhớ đầy đắng, không ngừng, một nỗi nhớ đến đau lòng, đến 'nhớ người yêu'. Đầu tiên, người ra đi nhớ về những kỷ niệm, những ngày tháng tràn đầy gian truân, vất vả, thiếu thốn.
Nhớ như thương nhớ người yêu
Trăng treo trên đỉnh, nắng chiều ôm bóng dáng
Nhớ mỗi hơi khói, sương vàng
Bếp lửa tròn rẻo người thương về nơi
Nhớ mỗi rừng nứa, bờ tre
Thiên nhiên Việt Bắc, hồn thơ trào dâng.
Nhớ về Việt Bắc, người ra đi thấu hiểu cảm xúc những bức tranh tự nhiên mộc mạc, ấm áp, như trăng lên, như nắng chiều và hình ảnh bếp lửa soi sáng mỗi đêm khuya. Bếp lửa ấy tỏa ra bao hơi ấm của tình thương và sức mạnh để vượt qua. Cùng với đó, những cảnh vật 'rừng nứa, bờ tre' là nơi gắn bó trong suốt thời gian dài. Nhớ Việt Bắc, người ra đi còn nhớ cả những ngày tháng gắn bó, những trải nghiệm đắng ngắt và ngọt ngào mà họ đã chia sẻ, vượt qua cùng nhau.
Thương nhau, chia sẻ cơm nắm
Bên nhau, ấm áp chăn đàn lồng.
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
Địu con lên rẫy, bắt từng bắp ngô.
Nhớ như ấm lớp học tối
Trong làng, ánh đèn soi dặm mơ màng.
Nhớ như gian nan công việc
Ngàn núi vang lên tiếng hát quen.
Nhớ tiếng mõ trong rừng chiều
Đời quê, êm đềm, lúc suối rì rào...
Nhớ về chiến khu Việt Bắc, làm sao không nhớ đến những ngày đêm bên nhau, chia sẻ mỗi bữa cơm. Và làm sao có thể quên được hình ảnh những người mẹ Việt Nam lao động, những lớp học trong đêm và những khó khăn trong công việc. Bằng cách sắp xếp và lặp lại từ 'nhớ' ở đầu mỗi câu, tác giả Tố Hữu đã thể hiện được cảm xúc sâu sắc, sự đắm say của người ra đi.
Đặc biệt, khi nhớ về Việt Bắc, người ra đi không quên bức tranh tự nhiên, những cánh hoa kết nối với con người. Bức tranh mùa đông làm nền cho những hoa chuối đỏ rực, những đèo cao nắng ánh.
Rừng xanh, hoa chuối rực lửa
Đèo cao, nắng đổ, người thắt lưng gài dao.
Bằng từ 'xanh', tác giả vẽ nên một vùng đất xanh biếc, trù phú ở Tây Bắc. Hoa chuối rừng đỏ rực trên nền xanh thăm thẳm tạo nên bức tranh sống động, ấm áp. Con người chủ động, tự tin trước thiên nhiên, thể hiện sức mạnh của bản thân.
Sau mùa đông, mùa xuân đã đến:
Trong ngày xuân, rừng trắng mơ nở
Nhớ người đan nón, chuốt sợi giang.
Mùa xuân rực trắng hoa mơ
Người chuốt sợi giang, tỉ mỉ cẩn thận.
Nếu mùa đông, xuân dùng hình ảnh, màu sắc
Mùa hè bắt tiếng ve rừng, phách vàng.
Ve kêu, rừng phách rơi vàng
Nhớ em gái hái măng lẻ loi.
Tiếng ve, âm thanh mùa hạ
Rừng phách vàng, cô gái hái măng lẻ loi.
Kết thúc bức tranh tứ bình
Mùa thu, trăng sáng, hát ân tình.
Rừng thu, trăng tỏa ánh sáng
Người hát ân tình, thủy chung nơi đây.
Trong lòng nhớ những năm chiến
Đêm rầm rập, đất rung, lửa bay.
Đường Việt Bắc chúng ta đi
Đêm đêm rung chuyển, như đất lay.
Quân đồn đi, đoàn đến bay
Sao trên đầu súng, bạn đây, mũ nan.
Dân công bước, đỏ lửa lan
Chân nát đá, lửa sáng rần rần.
Đêm sâu, sương dày, thăm thẳm
Đèn pha soi sáng, như mai đến.
Cuối cùng, tâm trạng người đi
Nhớ Việt Bắc, khen Trung ương Đảng, Bác.
Nơi u ám kẻ thù ẩn
Nhìn lên, Việt Bắc sáng lên ngời.
Trong nỗi đau, lòng vẫn lời
Nhìn về, Việt Bắc, sức mạnh tinh thần.
Mười lăm năm ấy, lòng xanh
Quê hương, cách mạng, cộng hòa hùng.Mình về, nhớ lại người thân
Đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào.
Tóm lại, 'Việt Bắc' của Tố Hữu
Thơ nhẹ, dân dã, cảm xúc sâu sắc.
""""--KẾT THÚC""""---
Trên đây là bài viết về 'Phân Tích Tâm Trạng Của Người Rời Bỏ Trong Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu'. Để hiểu rõ hơn về bài thơ và nâng cao kỹ năng phân tích văn bản, cảm nhận, các bạn có thể tham khảo thêm các bài viết: Cảm Nhận Về Hình Ảnh Thiên Nhiên Và Con Người Việt Bắc Trong Đoạn Thơ: Ta Về, Mình Có Nhớ Ta...., Phân Tích Nỗi Nhớ Của Người Cán Bộ Cách Mạng Về Xuôi Đối Với Việt Bắc Trong Bài Việt Bắc, Tố Hữu, Phân Tích 8 Câu Đầu Của Bài Việt Bắc, Tố Hữu, Phân Tích Đoạn Thơ Sau: 'Mình Về Mình Có... Mái Đình, Cây Đa' Trong Bài Việt Bắc.
