Nỗi sợ bị chôn sống phổ biến đến mức các nhà tâm lý học phương Tây phải đặt tên cho nó: Taphophobia, từ 'taphos' trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là hầm mộ, và 'phobos' là nỗi sợ hãi.
Cách đây vài tuần, một bà lão 82 tuổi được xác định đã chết bất ngờ tỉnh dậy trong một nhà xác ở New York. CNN ngay lập tức gửi phóng viên đến viện dưỡng lão ở hạt Suffolk để điều tra vụ việc.
Theo báo cáo, bà lão giấu danh tính được xác nhận đã qua đời vào 11 giờ 15 phút sáng ngày 7/2. Tuy nhiên, vào 13 giờ 30 phút cùng ngày, thi thể của bà được đưa đến một nhà tang lễ gần đó. Khoảng 14 giờ 09 phút, nhân viên nhà tang lễ phát hiện bà lão vẫn còn hô hấp.
Ngay lập tức, họ gọi xe cấp cứu để chuyển bà vào bệnh viện.

Một sự việc tương tự đã xảy ra vào tháng 12 năm trước, tại một đơn vị dưỡng lão cho bệnh nhân Alzheimer ở Mỹ. Một phụ nữ trung niên 66 tuổi được phát hiện vẫn còn sống và thở hổn hển trong túi đựng thi thể của nhà tang lễ.
Trước đó 2 tiếng rưỡi, một y tá xác định bà ấy đã qua đời dựa vào kiểm tra đồng tử giãn, không có phản xạ thở và mạch đập.
'Tất cả các bác sĩ ngày nay đều được hướng dẫn cách kiểm tra một người đã qua đời như vậy, và họ đều ý thức về nhiệm vụ của mình', Stephen Hughes, giáo sư y khoa tại Đại học Anglia Ruskin, Anh Quốc chia sẻ.
'Đáng tiếc, đã có những trường hợp cái chết được xác nhận theo quy trình này, nhưng bệnh nhân lại có dấu hiệu sự sống trở lại sau đó'.
Vậy tại sao điều này lại xảy ra? Liệu chúng ta cần phải thay đổi quy trình kiểm tra người đã chết để đảm bảo không có ai phải tỉnh dậy trong tang lễ của chính mình hay không? Trong bài viết sau đây, giáo sư Stephen Hughes sẽ giải thích điều này một cách thấu đáo.

Trong nhiều nền văn minh cổ đại, khi một người qua đời, tang lễ của họ thường kéo dài trong nhiều ngày. Điều này là do các trường hợp người được cho đã qua đời nhưng sau đó sống lại thường xuyên xảy ra.
Đơn giản vì vào thời điểm đó, các bác sĩ cổ đại không thể phân biệt được một người đã chết lâm sàng với một người thật sự đã qua đời. Trong truyền thống dân gian, người tin rằng linh hồn cần khoảng 7-8 ngày để trở lại thân xác và sống lại.
Điều này có vẻ kỳ lạ trong thời đại hiện nay. Nhưng niềm tin vào người đã qua đời sống lại vẫn tồn tại đến thế kỷ 20, ngay cả trong xã hội Phương Tây, nơi y học hiện đại được phát triển.
Trong một thủ tục cũ của hải quân, khi may tấm vải che cho một binh sĩ đã khuất, người thợ may sẽ đâm một chiếc kim vải qua mũi của binh sĩ đó. 'Việc này được cho là đủ mạnh để đánh thức bất kỳ thủy thủ nào vẫn còn sống thật sự', giáo sư Hughes viết.

Trước đó, việc những người bị tưởng nhầm là đã chết cũng rất phổ biến trong dịch tả ở thế kỷ 18. Có quá nhiều nạn nhân và các bác sĩ sợ tiếp xúc lâu với họ có thể gây lây nhiễm, vì vậy việc kiểm tra các xác chết thường được tiến hành một cách sơ sài.
Kết quả là đã có những người bị đem đi chôn sống. Họ sau đó được phát hiện đã tỉnh lại dưới hầm mộ, có râu tóc dài ra, với hai tay giơ lên và lòng bàn tay hướng lên trên.
Tác giả Christine Quigley tường thuật trong cuốn sách The Corpse: A History rằng vào đầu những năm 1900, mỗi tuần đều có một người bị chôn sống được phát hiện.
Năm 1905, nhà cải cách người Anh William Tebb đã thu thập bằng chứng về 219 vụ nạn nhân suýt bị chôn sống, 149 trường hợp đã bị chôn sống thật và 10 trường hợp các bác sĩ mổ thi thể của người sống vì nghĩ họ đã chết.
Đáng chú ý, Tebb phát hiện 2 trường hợp 'người chết' thức dậy ngay giữa lúc việc ướp xác họ đang được tiến hành.
Nỗi sợ bị chôn sống phổ biến đến nỗi các nhà tâm lý học phương Tây phải đặt tên cho nó: Taphophobia ghép từ 'taphos' trong tiếng Hy Lạp nghĩa là hầm mộ, và 'phobos' là nỗi sợ hãi.
Tâm lý này đã thúc đẩy một ngành công nghiệp nhỏ phát triển mạnh mẽ trong thời đại Victoria: chế tạo những chiếc quan tài chống lại nguy cơ người chết sống lại.

Ví dụ về thiết kế này là một hệ thống hầm mộ có đường ống dẫn khí nối vào bên trong quan tài. Phía trên có một căn phòng quan sát, nơi người thân có thể nhìn vào để kiểm tra xem thi thể có còn cử động sau khi chôn cất hay không.
Chỉ cần không ngửi thấy mùi cơ thể phân hủy, ngôi mộ sẽ được đào lên ngay lập tức để kiểm tra.
Trong danh sách bằng sáng chế của Hoa Kỳ, có một chiếc quan tài được phát minh vào năm 1868 bởi Franz Vester. Quan tài này có hệ thống báo động bằng một quả chuông nối với tay người chết.
Ngoài ra, quan tài còn có một chiếc còi để người tỉnh dậy có thể thổi và một thang để thoát ra ngoài.
Năm 1907, Johan Jacob Toolen, một nhà sáng chế lo lắng về nỗi sợ bị chôn sống, đã chế tạo một cần gạt mở quan tài từ bên trong. Đây là một giải pháp dành cho những người yếu ớt.

Ông nghĩ rằng những người bị chôn sống sẽ yếu đuối và cần không khí để hồi sức, vì vậy ông đã phát minh ra cần gạt nhẹ nhàng để mở quan tài.
Vào thời điểm đó, Toolen cho rằng cần có một cách để người tỉnh dậy có thể thoát ra ngoài nhanh chóng và dễ dàng khi cần thiết.
Gần 7 thập kỷ sau đó, thiết kế hầm mộ với cơ chế thoát hiểm vẫn được sử dụng. Dưới đây là một trong số đó thuộc về gia đình Thomas Pursell, người lính cứu hỏa Mỹ qua đời năm 1973.
Nó được xây dựng tại nghĩa trang Wildwood ở thành phố Williamsport. Hầm mộ này có cánh cửa thoát hiểm mà Pursell hy vọng sẽ sử dụng nếu may mắn sống lại.
Bên trong quan tài, Pursell đã trang bị các lớp cách nhiệt để giữ ấm. Ông đã tự nhủ và huấn luyện gia đình rằng nếu họ tỉnh dậy trong quan tài, họ cần bình tĩnh, không hoảng loạn. Họ cần tìm thức ăn đã chuẩn bị sẵn, ăn chúng để hồi sức và xoay bánh xe thoát ra ngoài.

Tuy nhiên, đã 50 năm trôi qua, vẫn không có ai trong gia đình Thomas Pursell sống lại từ quan tài đó. Cũng không có bằng chứng nào cho thấy các quan tài từ thời Victoria hoạt động hiệu quả. Chúng chỉ được chế tạo và lắp đặt, nhưng chưa từng được sử dụng.

Truyền thông, đặc biệt là mạng xã hội bây giờ phổ biến các câu chuyện về 'người chết' sống lại với nhiều bằng chứng hơn. Nó cũng cho phép các bác sĩ và nhà khoa học có cơ hội nghiên cứu chúng.
Ví dụ, năm 2012, một bà cụ 95 tuổi tên Lý Tú Phân ở Quảng Tây, Trung Quốc được báo chí và nhân chứng địa phương xác nhận đã tỉnh lại sau 6 ngày nằm trong quan tài.
Trước đó, bà cụ bị chấn thương não sau một cú ngã. Gia đình người chăm sóc, ông Trần Khánh Vượng cho biết cụ đã tử vong sau hơn 2 tuần điều trị tại nhà. Họ đã kiểm tra hơi thở và phản ứng bằng cách lắc cụ dậy nhưng không có kết quả.
Theo phong tục địa phương, gia đình ông Trần tổ chức lễ tang cho bà Lý trong suốt 1 tuần. Họ đặt bà vào quan tài nhưng chưa đóng nắp cố định. Cho đến ngày thứ 6, đột nhiên, con trai ông Trần phát hiện nắp quan tài đã bị mở và thi thể bà Lý đã biến mất.
Họ kinh hãi khi thấy bà cụ đang ngồi gần lửa trong bếp. 'Tôi tỉnh dậy và cảm thấy đói bụng, nên tôi đã ngồi bếp để nấu đồ ăn', bà Lý vô tư chia sẻ.

Các bác sĩ địa phương cho biết trường hợp này là do chẩn đoán sai. Cụ Lý có thể đã rơi vào trạng thái hôn mê sau chấn thương sọ não chứ không phải đã chết.
'Có rất nhiều trường hợp tương tự ở ngoài Châu Âu', giáo sư Hughes nói. Khi một cái chết không được xác nhận bởi bác sĩ chuyên môn, có thể xảy ra sai sót và tạo ra các câu chuyện gây chấn động trên báo chí.
'Sự khác biệt về văn hóa trong thủ tục xác nhận tử vong y tế có thể giải thích điều này', ông nói. Ví dụ, năm 2014, một người đàn ông 78 tuổi tên Walter Williams ở Mississippi được xác nhận đã chết bởi một điều tra viên tên Dexter Howard.
Điều tra viên là một vị trí dân cử được bầu tại hơn 1.500 quận của Hoa Kỳ. Họ có trách nhiệm điều tra và xác nhận các cái chết bất thường trong khu vực của họ. Điều đặc biệt là họ không cần có bằng cấp y tế.
Howard nói rằng gia đình Williams đã thông báo với ông rằng ông ấy đã qua đời. Sau đó, ông đơn giản tin họ. Sau khi đến nhà và kiểm tra mạch cho Williams, Howard không thấy mạch đập nên đã ký giấy chứng tử. Sau đó, thi thể được đưa vào túi và chuyển đến nhà tang lễ.
Tại đây, ông Williams đột nhiên tỉnh lại và đá chân vào túi xác. Howard phát hiện và ngay lập tức gọi xe cấp cứu. Ông Williams được chuyển đến bệnh viện, nơi các bác sĩ xác nhận ông còn sống và hồi sức thành công.
Nếu chậm một chút, Williams sẽ được mang đi ướp xác, nơi nhân viên nhà tang lễ sẽ rút máu và bơm trở lại formandehyde để giữ thi thể trông tươi trẻ hơn.

Mặc dù mọi người có thể trách móc việc các cái chết được chẩn đoán sai bởi người không có chuyên môn, nhưng giáo sư Hughes cho biết đôi khi các bác sĩ cũng có thể nhầm lẫn.
'Trong những năm qua, tôi đã thấy điều này xảy ra. Một ngày nọ tại bệnh viện, một đồng nghiệp thông báo một người phụ nữ lớn tuổi đã chết, nhưng sau đó bà bắt đầu thở trở lại, có mạch đập và phục hồi một cách nhanh chóng', ông nói.
Trong một sự cố khác, toàn bộ đội cấp cứu y tế tại bệnh viện của giáo sư Hughes đã được triệu tập khẩn cấp bởi một tin nhắn tóm tắt bệnh sử: 'Ngưng tim. Đã được đưa xuống nhà xác. Đây không phải trò đùa!'.
Họ đã hồi sức cho một phụ nữ uống quá liều thuốc an thần, sau đó được một bác sĩ đa khoa xác nhận đã chết. Nhưng sau khi đưa xuống nhà xác, người phụ nữ bất ngờ co giật. 'Tất cả mọi người đều xấu hổ tột độ về trường hợp đó. Nếu tôi không nhầm, may mắn là bệnh nhân đã hồi phục', ông nói.

Quy trình kiểm tra một cái chết tiêu chuẩn được các bác sĩ thực hiện ngày nay dựa trên các dấu hiệu lâm sàng: Không tiếng tim, ngừng thở, đồng tử giãn và bất động, không phản ứng với kích thích bên ngoài.
'Việc không tuân thủ quy trình xác nhận cái chết có thể giải thích cho một số trường hợp bị tuyên bố đã chết một cách không chính xác. Thực hiện khám sơ bộ khi bị phân tâm có thể dễ dẫn đến không nghe được tiếng tim và phát hiện hơi thở yếu, không đều', giáo sư Hughes giải thích.
'Tuy nhiên, một số loại thuốc chúng tôi cung cấp cho bệnh nhân có thể làm cho quá trình trở nên phức tạp hơn'.

Ông minh họa với trường hợp của một phụ nữ bệnh nhân uống quá liều thuốc an thần:
'Theo một cách nào đó, thuốc an thần được xem là có tác dụng bảo vệ não khỏi tổn thương và được sử dụng để gây mê cho các ca phẫu thuật lớn, đặc biệt nếu cần phải ngừng tuần hoàn máu trong một thời gian.
Quá liều thuốc an thần làm giảm khả năng phản ứng và suy giảm hô hấp và tuần hoàn, gây cảm giác chết trong khi bảo vệ não khỏi thiếu oxy. Sau đó, khi thuốc được loại bỏ khỏi cơ thể, người đó có thể tỉnh lại.
Diazepam (biệt dược của Valium), alprazolam (biệt dược của Xanax) là những loại thuốc khiến mọi người bị nhầm là đã chết'.
Ngoài ra, giáo sư Hughes nhấn mạnh rằng một số chất độc cũng có thể gây ra hiện tượng tương tự. Ví dụ như tetrodotoxin từ cá nóc có thể làm tê liệt nạn nhân đến mức không có dấu hiệu của sự sống.
Năm 2014, một thanh niên 24 tuổi ở Kenya tên là Paul Mutora cũng bị nhầm là đã chết sau khi uống phải một lọ thuốc trừ sâu trong 15 tiếng. Các nhân viên y tế đã tiêm cho anh ta một loại thuốc điều trị chất độc thần kinh có tên là Atropine.
Atropine làm chậm nhịp tim, điều này khiến Mutora bị tưởng là đã chết trước khi anh tỉnh dậy trong nhà xác và gây hoảng loạn cho các nhân viên.

Gây ra hiện tượng chậm nhịp tim, giáo sư Hughes nói: 'Ngất xỉu cũng có thể đánh lừa cả bác sĩ có bằng cấp. Nó kích hoạt dây thần kinh phế vị (dây thần kinh sọ dài nhất trong cơ thể) làm tim đập chậm lại và huyết áp tụt giảm'.
Ông dùng trường hợp của Neysi Perez, một cô gái 16 tuổi ở Honduras năm 2015 làm ví dụ. Perez được cho là đã chết vì sốc sau khi nghe thấy tiếng súng nổ bên ngoài nhà.
Vì nguyên nhân cái chết quá bất thường, các bác sĩ đã theo dõi thi thể cô ấy suốt 3 tiếng đồng hồ nhưng không thấy dấu hiệu sự sống. Cuối cùng, họ mới ký giấy chứng tử để gia đình Perez đem cô về mai táng.
Tuy nhiên, một ngày sau tang lễ, chồng Perez đến thăm mộ cô thì phát hiện thấy tiếng la hét bên dưới lớp bê tông. Anh lập tức hô hoán mọi người phá mộ bằng búa tạ. Khi đưa cô gái ra ngoài, em họ Perez kể rằng tim cô vẫn đập nhẹ và cơ thể vẫn ấm.
'Có thể cô ấy đã tỉnh lại sau một cơn ngất xỉu kéo dài', giáo sư Hughes giải thích. Trước đó, Perez có thể đã mắc phải một tình trạng được gọi là 'catalepsy', đặc trưng bởi các triệu chứng cứng đơ cơ thể, thở chậm và giảm nhạy cảm với đau.
Catalepsy đã được ghi nhận bởi các bác sĩ từ thế kỷ 19, trong đó, họ nhấn mạnh rằng thậm chí cả việc đâm kim dưới móng tay hoặc xỏ qua lỗ mũi như trong nghi lễ của hải quân cũng không thể đánh thức một người bị tình trạng đó.
Các bác sĩ tại Honduras có thể cũng đã mắc sai lầm khi khám nghiệm tử thi cho Perez. Kết quả là cô ấy đã tỉnh lại trong quan tài của mình. Và mặc dù đã được tích cực hồi sức sau khi đưa tới bệnh viện, Perez một lần nữa được xác nhận là đã chết và lần này cô ấy được chôn cất vĩnh viễn.
Một câu chuyện tương tự đã xảy ra vào năm 2018 tại Ấn Độ. Một người đàn ông 95 tuổi sống tại bang Rajasthan được bác sĩ tuyên bố là đã chết sau khi ngất xỉu và không thể tỉnh lại. Gia đình đã thực hiện các thủ tục khâm liệm cho ông ấy.
Sau khi được cạo tóc như một phần của truyền thống an táng, thi thể người đàn ông được mang đi tắm. May mắn hơn là khi người thân dội nước lên ngực, cơ thể ông ấy bất ngờ run rẩy.
Trong vòng vài phút sau đó, người đàn ông tỉnh dậy trước sự ngạc nhiên và vui mừng của tất cả mọi người. Bữa ăn trong tang lễ của ông ấy hôm đó đã trở thành một bữa tiệc.
Giáo sư Hughes nói một nguyên nhân cuối cùng hay dễ dẫn tới các chẩn đoán sai về cái chết trong y khoa là nhiệt độ. Năm 2014, Janina Kolkiewicz, một cụ bà 91 tuổi đã bất ngờ tỉnh dậy trong một nhà xác ở Ba Lan.
Họ đã để bà ấy trong kho lạnh suốt 11 tiếng đồng hồ, trước khi một nhân viên nhà xác phát hiện thi thể động đậy. Cụ Kolkiewicz được con cháu đón về nhà sau khi sưởi ấm cơ thể với một bát súp, trà nóng và hai chiếc bánh kếp.
'Ngâm mình trong nước lạnh cũng có thể gây ra ảo giác về cái chết vì nó làm chậm nhịp tim. Sự sống sót sau một thời gian dài trong nước đã được ghi nhận đầy đủ', giáo sư Hughes viết.
'Trong lĩnh vực y học cấp cứu, từ lâu đã được giảng dạy rằng bệnh nhân bị đuối nước không được xác nhận là đã chết cho đến khi họ được sưởi ấm. Phục hồi thần kinh tốt đã được báo cáo sau thời gian dài ngâm nước lạnh lên đến 70 phút'.

Các sự kiện tương tự đã được ghi nhận ở những người bị cho là đã chết đông băng ngoài trời, bị chôn vùi trong một vụ lở tuyết hoặc đơn giản là hạ thân nhiệt.
Khi tim ngừng đập, vì bất kỳ lý do nào, các mô mà nó phục vụ sẽ bị thiếu oxy và glucose, đồng thời có thể tích tụ các chất thải độc hại. Điều này dần dần làm chết các tế bào. Khi đủ số lượng tế bào chết, các cơ quan chính sẽ suy yếu và toàn bộ cơ thể được coi là đã chết.
Các tế bào mỏng manh của não đặc biệt dễ bị thiếu oxy và chúng thường sẽ bắt đầu chết trong khoảng 4 đến 6 phút. Tuy nhiên, việc giảm nhiệt độ có thể kéo dài thời gian này đáng kể: cái lạnh làm giảm nhu cầu oxy và glucose của tế bào và chúng chuyển sang trạng thái ngủ đông.
'Dù nguyên nhân là gì, những trường hợp như vậy được đưa ra trên các phương tiện truyền thông vì chúng gây kinh ngạc và thu hút sự chú ý, nhưng thực tế thì chúng rất hiếm', giáo sư Hughes nhấn mạnh.
Quy trình kiểm tra cái chết của bác sĩ lâm sàng không cần phải thay đổi. Chỉ cần họ tập trung vào công việc của mình và lưu ý những gì có thể xảy ra trong ba trường hợp kể trên: Hạ thân nhiệt, phản ứng cứng đờ catalepsy, thuốc an thần và một số loại biệt dược có thể gây ra cái chết giả.
Mong rằng trong tương lai, chúng ta sẽ không còn chứng kiến bất kỳ trường hợp người chết sống lại nào nữa, để nỗi sợ Taphophobia về truyền thuyết tỉnh dậy trong quan tài sẽ hoàn toàn biến mất.
Tham khảo Theconversation, Bristishstar, Mirror, Theguardian, BBC, Yahoo, Eltiempo, Atlasobscura, Vox, CNN
