
| Thần Nông | |
|---|---|
| Vua Thần Nông thị | |
| Viêm Đế | |
| Tại vị | ? - ? |
| Tiền nhiệm | Sáng lập triều đại |
| Kế nhiệm | Đế Đồi |
| Thông tin chung | |
| Sinh | ? {{{nơi sinh}}} |
| Mất | ? |
| An táng | ? |
| Hậu duệ | Đế Đồi |
| Hoàng tộc | Thần Nông thị |
Người sáng lập nông nghiệp (chữ Hán: 神農, chữ giản thể: 神农) (3220 TCN—3080 TCN), còn được gọi là Nhà sáng lập nông nghiệp (神農氏), Nhà tiên tri Khôi Ngôi (魁隗氏), Nhà Liên Sơn (連山氏), Nhà Liệt Sơn (列山氏), Thần Nông (稷神), thường được biết đến với danh xưng Viêm Đế (炎帝). Người sáng lập nông nghiệp là một nhân vật thần thoại và cũng được coi là tổ tiên của dòng họ Hồng Bàng trong truyền thuyết Việt Nam.
Theo Christie Anthony (1968) trích từ Chinese Mythology. Feltham: Hamlyn Publishing:
'Người sáng lập nông nghiệp còn được miêu tả với đầu giống như đầu bò, sừng nhọn, trán đồng, đầu sắt, đuôi bọ cạp, và chân giống như chân rết'
Chuyển âm:
Người sáng lập nông nghiệp thường được mô tả với đầu giống đầu bò, sừng nhọn, trán bằng đồng, đầu bằng sắt, đuôi bọ cạp và chân giống như chân rết.
Dịch nghĩa:
Người sáng lập nông nghiệp cũng được miêu tả là người có đầu giống đầu bò, sừng nhọn, trán bằng đồng, đầu bằng sắt, đuôi bọ cạp và chân rết.
Theo truyền thuyết, người sáng lập nông nghiệp sống cách đây khoảng hơn 5.000 năm. Ông là người đã dạy dân chúng nghề trồng trọt, chế tạo cày bừa, và phát triển y học chữa bệnh, do đó trong dân gian có câu Người sáng lập nông nghiệp nếm trăm cây thuốc, dạy người chữa bệnh và làm ruộng (神農嘗百草, 教人醫療與農耕). Vì vậy, ông còn được gọi là Vua thuốc (藥王), Vua Ngũ Cốc (五穀王), Tiên Đế Ngũ Cốc (五穀先帝), và Đại Đế Người sáng lập nông nghiệp (神農大帝).
Trong thần thoại Trung Hoa

Trong thần thoại Trung Hoa, Thần Nông không chỉ là tổ tiên của nghề nông, người đã dạy dân cách trồng ngũ cốc và chế tạo cày bằng gỗ, mà còn là người khai sinh ra nghề gốm sứ và y học. Thỉnh thoảng, ông cũng được coi là tổ tiên hay thủ lĩnh của Xi Vưu. Giống như nhân vật này, Thần Nông có đầu giống đầu bò, sừng nhọn, trán đồng, đầu sắt, đuôi bọ cạp, và chân rết. Một sự khác biệt giữa huyền thoại và thực tế là Thần Nông và Hoàng Đế được xem là bạn và đồng học, mặc dù giữa họ có khoảng cách hơn 500 năm. Họ cùng chia sẻ những bí quyết giả kim thuật trong y học, khả năng bất tử và chế tạo vàng.
Theo ghi chép của Tư Mã Trinh trong Sử ký, Thần Nông là bà con với Hoàng Đế và được tôn vinh là tổ tiên của người Trung Quốc. Người Hán coi cả hai là tổ tiên chung của mình, với thành ngữ 'Con cháu Viêm Hoàng' (Viêm Hoàng tử tôn). Ông qua đời do trúng độc từ một loại thảo dược mà không kịp chữa trị, sau nhiều năm nếm thử các loại thảo dược độc. Thần Nông được phong thần như một trong ba vị vua huyền thoại vĩ đại nhất, gọi chung là Tam Hoàng, vì những đóng góp to lớn của ông cho nhân loại.
Theo Tư Mã Trinh, Thần Nông đã trị vì 140 năm và được chôn cất tại Trường Sa (nay thuộc tỉnh Hồ Nam). Kinh đô ban đầu của ông ở đất Trần, sau đó chuyển đến Khúc Phụ. Con cháu của ông đã tiếp tục trị vì qua 8 đời kéo dài 520 năm cho đến khi Hiên Viên Hoàng Đế xuất hiện. Thần Nông còn có một người con gái tên là Tinh Vệ.
Khó xác định Thần Nông có phải là nhân vật lịch sử thực sự hay không. Tuy nhiên, dù là một cá nhân hay một thị tộc, Thần Nông đóng vai trò quan trọng trong lịch sử văn hóa, đặc biệt là trong thần thoại và văn học dân gian. Thực tế, Thần Nông được nhắc đến nhiều trong các tác phẩm lịch sử.
Thần Nông trong văn học
Dù Tư Mã Thiên ghi nhận các vị vua trước Hoàng Đế thuộc dòng họ hoặc nhóm sắc tộc của Thần Nông, Tư Mã Trinh, người đã bổ sung phần Tam Hoàng vào Sử ký, cho rằng Thần Nông thuộc dòng họ Khương (姜) và liệt kê danh sách những người kế vị ông.
Trong một cuốn sách cổ được trích dẫn nhiều hiện nay, Hoài Nam tử có viết: 'Trước khi Thần Nông xuất hiện, dân chúng còn mông muội, đói khổ và bệnh tật; nhưng sau khi ông dạy cách trồng ngũ cốc mà ông tìm ra, cũng như thử nghiệm hàng chục loại cây cỏ mỗi ngày'. Thần Nông cũng xuất hiện trong Kinh Dịch, nơi ông được nhắc đến như người kế tục sau thời kỳ của Bào Hy/Phục Hy, phát minh ra cày gỗ với lưỡi cong bằng gỗ, truyền dạy kỹ năng canh tác cho người dân và thiết lập chợ ban ngày. Một tài liệu khác, Lã Thị Xuân Thu (呂氏春秋), ghi nhận một số vụ bạo loạn khi Thần Nông lên nắm quyền và cho biết quyền lực của ông kéo dài qua 17 thế hệ.
Trong văn hóa dân gian
Thần Nông được cho là đã thử nghiệm hàng trăm loại cây cỏ để kiểm tra tính chất dược liệu của chúng. Đóng góp quan trọng của ông là Thần Nông bản thảo kinh (chữ Hán: 神農本草經, giản thể: 神农本草经, pinyin: Shénnóng běncǎo jīng), được biên soạn lần đầu vào cuối thời Tây Hán, vài nghìn năm sau khi Thần Nông sống. Cuốn sách này liệt kê nhiều loại cây cỏ khác nhau, như linh chi, mà Thần Nông phát hiện và đánh giá. Đây được coi là dược điển cổ nhất của Trung Quốc, bao gồm 365 vị thuốc từ khoáng vật, thực vật và động vật. Thần Nông được cho là đã nhận diện hàng trăm loại thảo dược và độc thảo bằng cách nếm thử chúng, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của y học cổ truyền Trung Hoa. Truyền thuyết cũng nói rằng ban đầu Thần Nông có thân hình trong suốt, giúp ông quan sát tác động của các cây cỏ lên cơ thể. Ông cũng được cho là phát hiện ra trà, coi như thuốc giải cho các chất độc từ khoảng 70 loại cây cỏ, vào năm 2737 TCN, khi ông vô tình nếm thử trà từ những chiếc lá chè rơi vào nồi nước sôi của ông. Thần Nông được tôn kính như tổ tiên của y học Trung Hoa và là người sáng lập kỹ thuật châm cứu.
Thần Nông cũng được cho là có vai trò trong việc sáng tạo ra cổ cầm, cùng với Phục Hy và Hoàng Đế. Một số nghiên cứu còn cho rằng dòng họ của viên tướng nổi tiếng thời nhà Tống, Nhạc Phi, có nguồn gốc từ Thần Nông.
Danh sách các vua của dòng họ Thần Nông
- Theo Đế vương thế kỷ và Sử Ký - Bổ Tam Hoàng bản kỷ, dòng họ Thần Nông có chín vị vua kế tiếp:
- Viêm Đế
- Đế Lâm Khôi (帝临魁), con của Viêm Đế, còn gọi là Đế Đồi
- Đế Thừa (帝承), con của Đế Lâm Khôi
- Đế Minh (帝明), con của Đế Thừa
- Đế Trực (帝直), con của Đế Minh
- Đế Ly (帝釐), còn gọi là Đế Nghi, con của Đế Trực (theo sách Thông Giám Ngoại Kỷ, Đế Ly là con của Đế Minh và không có đời Đế Trực)
- Đế Ai (帝哀), con của Đế Ly, còn gọi là Đế Lai
- Đế Khắc (帝克), con của Đế Ai
- Đế Du Võng (帝榆罔), con của Đế Khắc
- Theo Sơn Hải kinh, dòng họ Thần Nông truyền qua 10 đời:
- Viêm Đế
- Viêm Cư (Trụ)
- Tiết Tịnh
- Hí Khí
- Chúc Dung
- Cộng Công
- Thuật Khí
- Hậu Thổ
- Ế Minh
- Tuế Thập
Tại Việt Nam
Tại Việt Nam, Thần Nông được coi là tổ tiên của người Việt.
Trong Đại Việt Sử ký Toàn thư, lời tựa của Ngô Sĩ Liên viết: 'Vùng đất Đại Việt nằm ở phía nam Ngũ Lĩnh, cho thấy trời đã chia cắt rõ ràng giữa Nam và Bắc. Tổ tiên của chúng ta là dòng họ Thần Nông, cho thấy trời đã định sẵn, có thể cùng Bắc triều tạo nên hai đế phương'.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư:
- 'Vua Đế Minh, cháu ba đời của Thần Nông, đã đi thăm phương Nam và đến núi Ngũ Lĩnh (hiện nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc), tại đây ông gặp một nàng tiên, kết hôn và sinh ra Lộc Tục. Sau đó, Đế Minh truyền lại ngôi cho con trưởng là Đế Nghi để cai quản phương Bắc (từ núi Ngũ Lĩnh trở lên phía Bắc), còn Lộc Tục được phong làm vua phương Nam (từ núi Ngũ Lĩnh trở xuống phía Nam), với danh hiệu Kinh Dương Vương, lãnh thổ gọi là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương lên ngôi vào năm Nhâm Tuất 2897 TCN, cưới con gái Động Đình Hồ quân (cũng gọi là Thần Long), tên là Long nữ, sinh ra Sùng Lãm, người kế tục làm vua với danh xưng Lạc Long Quân. Lạc Long Quân kết hôn với con gái vua Đế Lai (con của Đế Nghi), tên là Âu Cơ, và có một trăm người con trai. Một ngày, Lạc Long Quân nói với Âu Cơ: 'Ta là giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, rất khó hòa hợp.' Vậy là họ chia tay, 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha ra biển (hoặc về Nam Hải), phong cho con trưởng làm Hùng Vương, nối ngôi vua.'
Lễ Thần Nông
Lễ Thần Nông là nghi lễ dâng hương để cầu nguyện cho mùa màng bội thu và nghề nông phát đạt. Trong các cuốn lịch cổ, người ta thường vẽ hình một mục đồng dắt theo một con trâu. Mục đồng đại diện cho vua Thần Nông, còn con trâu là biểu tượng của nghề nông.
Hình vẽ của mục đồng và con trâu sẽ thay đổi hàng năm dựa vào dự đoán của Khâm thiên giám về tình hình mùa màng trong năm đó, liệu có tốt hay không.
Trong năm được mùa, hình ảnh của Thần Nông sẽ chỉnh tề, với giày dép hoàn chỉnh, còn trong năm mùa màng kém, Thần Nông có vẻ vội vàng với chỉ một chiếc giày. Con trâu cũng được đổi màu theo hành của năm, có thể là vàng, đen, trắng, xanh, đỏ tương ứng với các hành Thổ, Thủy, Kim, Mộc, Hỏa. Vào thời phong kiến, lễ tế và rước Thần Nông được tổ chức hàng năm tại triều đình cũng như các địa phương.
Lễ tế Thần Nông được tổ chức hàng năm vào ngày Lập xuân, do đó còn được gọi là Tế xuân.
Theo chỉ đạo của Minh Mạng, sau tiết Đông chí hàng năm, tòa Khâm thiên giám phải chuẩn bị lễ tế Thần Nông. Các quan sẽ cùng nhau họp để tạo hình trâu và tượng Thần Nông.
Hai ngày trước Lập xuân, tại gần cửa thành Đông Ba (nay là cửa chính Đông), các quan Khâm thiên giám dựng một cái Đài hướng về phía đông. Trâu và tượng Thần Nông được đưa đến lưu tại phủ Thừa Thiên, và ngày hôm sau sẽ được các quan trong phủ rước từ phủ đến Đài. Các quan mặc lễ phục, có quân lính mang theo gươm giáo, tàn lọng, cờ quạt đi theo hộ tống.
Khi đến Đài, một lễ đơn giản được thực hiện để thông báo với Thổ Công về sự hiện diện của tượng Thần Nông và con trâu. Sau đó, trâu và tượng Thần Nông sẽ được đưa về kho cất. Vào ngày tế xuân, tượng và trâu lại được rước ra Đài, lần này do các quan bộ Lễ và quan phủ Thừa Thiên đảm nhận. Khi đoàn rước đi qua cung vua, một thái giám sẽ tâu báo cho vua biết. Sau đó, đoàn rước tiếp tục đi và khi qua bộ Lễ, một viên quan sẽ đánh vào mông trâu ba roi để thúc giục trâu làm việc.
Tại Đài, các quan thực hiện lễ tế Thần Nông theo nghi thức của các lễ tế khác. Sau khi hoàn tất lễ tế, trâu và tượng Thần Nông được quân lính đưa đi chôn sau buổi lễ.
Tại các tỉnh, lễ tế Thần Nông cũng được tổ chức vào ngày Lập xuân, với việc chuẩn bị từ sau ngày Đông chí. Các quan tỉnh sẽ đảm nhận trách nhiệm tổ chức lễ tế. Trâu và tượng Thần Nông cũng được chôn cất. Đối với người Dao Tuyển, để tạ ơn và cầu nguyện cho mùa màng bội thu và cuộc sống hạnh phúc, lễ hội vào ngày 6 tháng 6 âm lịch là lễ cúng Thần Nông lớn nhất trong năm. Ngoài ra, họ cũng cúng Thần Nông vào ngày 1 tháng 1 âm lịch và 9 tháng 9 âm lịch hàng năm.
Các liên kết bên ngoài
- Đinh Gia Khánh, trong sách Các vùng văn hóa Việt Nam, được biên soạn bởi Đinh Gia Khánh và Cù Huy Cận, Nhà xuất bản Văn học Hà Nội, 1995
Ghi chú
Thần thoại Trung Quốc |
|---|
Tam Hoàng Ngũ Đế | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tam Hoàng |
| ||||||||||||
| Ngũ Đế |
| ||||||||||||
Vua Trung Quốc • Tam Hoàng Ngũ Đế • Hạ • Thương • Chu • Tần • Hán • Tam Quốc • Tấn • Ngũ Hồ loạn Hoa • Nam Bắc triều • Tùy • Đường • Ngũ đại Thập quốc • Tống • Liêu • Tây Hạ • Kim • Nguyên • Minh • Thanh | |||||||||||||
Các đời vua Thần Nông thị | |
|---|---|
Theo Đế Vương thế kỷ, Sử ký - Bổ Tam Hoàng bản kỷ | |
Viêm Đế • Đế Lâm Khôi • Đế Thừa • Đế Minh • Đế Trực (Nghi) • Đế Ly (Lai) • Đế Ai • Đế Khắc • Đế Du Võng |
| Phả hệ Viêm Đế Thần Nông thị |
|---|
- ^ Tư Mã Trinh xem ông như một vị vua.
