
Đề bài: Nguyễn Khoa Điềm đã áp dụng một “đất nước của ca dao và thần thoại” để thể hiện triết lý “đất nước của nhân dân'. Hãy phân tích và chứng minh điều này
Kế hoạch
I. Bắt đầu:
- Giới thiệu về tác giả và tác phẩm
- Đặt vấn đề cần thảo luận
II. Nội dung chính:
1. Quan điểm về quê hương qua các thời kỳ để đến lý giải quê hương của nhân dân.
- Quê hương – một đề tài quan trọng, một hình tượng đặc biệt trong văn học Việt Nam, tuy nhiên ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi thời kỳ, mỗi tác giả, mỗi tác phẩm thì hình ảnh ấy lại mang những quan điểm riêng, rực rỡ về màu sắc và thẩm mỹ. Trong thời kỳ đặc biệt với triết lý “quốc gia trên hết” vì niềm tin quê hương liên quan chặt chẽ đến sự hy sinh của nhân dân, của mỗi thế hệ:
“Dòng máu chảy mạnh nước non
Vươn vai giữa biển đảo vững bền”
(Hồ Chí Minh)
(Tự do – Dân chủ – Văn minh)
- Văn học yêu nước trong những năm đầu thế kỷ XX đã tiến xa hơn thông qua lời của nhà cách mạng yêu nước Phan Bội Châu: “Dân là nền tảng của nước, nước là mái nhà của dân”, tuy nhiên vẫn phản ánh triết lý tư bản.
2. Chứng minh triết lý đất nước của nhân dân.
2.1 Đất nước được nhà thơ nhìn nhận và thể hiện qua một không gian địa lý rộng lớn. (trích từ đoạn văn “Đất là nơi ta học hành…. nhớ mãi ngày giỗ tổ” và “những bà vợ thương nhớ chồng….Bà Đen, Bà Điểm”)
- Nhà thơ suy ngẫm về “Đất Nước” thông qua chiều dài của lịch sử (dựa trên tư liệu từ “Và ở đâu trên khắp ruộng đồng… để người sau trồng cây và hái trái”)
2.3 Đất nước được thể hiện qua bề sâu văn hóa dân tộc qua góc nhìn tự hào của thanh niên yêu nước.
Những khám phá sâu sắc và mới mẻ về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm đã được thể hiện qua nguồn gốc phong phú của văn hóa dân tộc, văn học dân gian.
3. Đất nước của thơ ca và truyền thuyết
Chứng minh qua nghệ thuật của bài:
– Thơ trữ tình với luận điểm độc đáo
– Lời thơ chân thành chia sẻ tâm tình anh em
– Sử dụng nguồn cảm hứng từ văn hóa dân tộc, văn học dân gian.
III. Tổng kết
- Tóm tắt vấn đề
Mẫu bài
Bài tham khảo số 1
BÀI VIẾT
Quê hương - hai từ nghe quyến luyến đến sâu thẳm trong lòng ta, vừa trang trọng, vừa đậm đà hồn quê. Hình ảnh quê hương đã truyền cảm hứng cho biết bao tác phẩm văn học bay bổng. Văn học kháng chiến 1945 - 1975 trong dòng chảy đầy sức sống, mãnh liệt của cuộc sống không chỉ ghi lại những tiếng hò reo của thời đại mà còn điêu khắc nên tượng đài nghệ thuật quê hương thật sự lãng mạn, cao đẹp. Quê hương hiện thân trong một phần tinh thần của vùng Kinh Bắc đậm đà văn hóa dân gian, yêu thương, dịu dàng nhưng cũng đau khổ dưới bàn chân của kẻ xâm lược trong thơ của Hoàng Cầm; Quê hương tươi đẹp nhưng cũng đau thương với sức mạnh vươn lên 'rũ bùn đứng dậy sáng lòa' sống động hiện ra trong thơ của Nguyễn Đình Thi.
Trên chiến trường Bình Trị Thiên nơi khói lửa bốc lên, trong tác phẩm Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm, tiếng hát sôi nổi nhiệt huyết vang lên từ trái tim tuổi trẻ bước ra đường chiến đấu. Trong những dòng thơ đó, hình ảnh Đất nước được vẽ nên với sự tươi sáng, sống động nhất, gợi nhớ về một tư tưởng “Đất nước của nhân dân” lấp lánh trong hình thức “Đất Nước của ca dao thần thoại” như một sợi chỉ đỏ tạo nên dòng chảy đậm sâu, sôi động của tâm hồn thi sĩ. Suốt bài Đất Nước, tư tưởng “Đất Nước của nhân dân” vừa phản ánh một cách độc đáo, vừa thể hiện một cái nhìn toàn diện, sâu sắc về đất nước, về nhân dân. Tư tưởng này không chỉ thấm nhuần từ cảm xúc mà còn được thể hiện qua những chi tiết nghệ thuật của bài thơ. Từ đoạn trích, chúng ta được trải nghiệm một thế giới gần gũi, thân quen nhưng cũng kỳ diệu, huyền bí, khơi dậy tâm hồn của đất nước. Chương V của trường ca Mặt đường khát vọng đượm đặc, ôm trọn không khí văn hóa dân gian, thấm đẫm trong máu mồ hôi của mỗi con người, trong đó âm nhạc “đất nước của nhân dân” là điểm nhấn quan trọng nhất suốt bài thơ.
Đơn giản như tự nhiên, như ánh trăng lấp lánh trong thế giới “ngày xưa kia”, như một khúc hồn dịu dàng vút lên từ trái tim đầy yêu thương của mẹ qua những lời ru dịu dàng... tất cả ấy đều chạm đến tâm hồn mỗi người ta từ thuở nào. Dòng nước ngọt ngào của tình mẹ làm sạch lọc tâm hồn, gieo mầm những ý nghĩ tích cực nhất để từ đó mầm mầm, mảnh đất tâm hồn chúng ta mọc lên những bông hoa xinh đẹp, đón ánh sáng và gió của cuộc sống. Thế giới của tuổi thơ - thế giới của trí tưởng tượng bay bổng ấy, thật kỳ diệu, gắn bó sâu xa như hơi thở, như máu thịt nuôi dưỡng tâm hồn. Và từ bao giờ, tình yêu quê hương đất nước, từ trong lòng của mẹ, trở thành hình ảnh sâu sắc trong chúng ta từ tiềm thức... Văn học dân gian nói chung, ca dao thần thoại nói riêng là linh hồn của dân tộc. Đó có thể xem là phần của văn học trong sáng nhất, đầy sức sống nhất và là biểu hiện rõ nhất của tâm hồn dân tộc - một giọng điệu hồn hậu, tươi mới và đầy sức sống không ai khác ngoài nhân dân - cộng đồng lao động - trong quá trình lao động cải tạo thiên nhiên, là tác giả của văn học dân gian sôi động sáng tạo ấy. Với những cảm xúc chân thành, mãnh liệt của một hồn thơ chảy từ nguồn sữa dân gian mênh mông, với sự hiểu biết sâu sắc của một thanh niên trí thức có vốn văn hóa sâu rộng, phong phú đang trực tiếp trải qua trong cuộc chiến đấu sôi nổi, quyết liệt của nhân dân dưới mưa bom đạn của kẻ thù, Nguyễn Khoa Điềm đã quay trở lại với nguồn gốc “ca dao, thần thoại” để bức phá ra ánh sáng của tư tưởng “Đất Nước của nhân dân”, vừa độc đáo, vừa mới lạ, vừa thể hiện cái nhìn chính xác, toàn diện, có chiều sâu về đất nước, về nhân dân. Tư tưởng chủ đạo này được thấm nhuần từ cảm xúc đến việc sử dụng chi tiết nghệ thuật trong bài thơ. Đi suốt đoạn trích, ta bắt gặp một thế giới vừa gần gũi, thân quen, vừa kì diệu sâu xa khơi dậy hồn đất nước. Và chương V của bản trường ca Mặt đường khát vọng được tắm đẫm, được bao bọc bởi bầu không khí văn hóa dân gian gắn bó máu thịt với mỗi tâm hồn, trong đó âm hưởng “đất nước của 'nhân dân” là nốt nhạc chủ đạo ngân vang suốt bản đàn “đất nước”.
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa”... mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Những câu thơ mở đầu đoạn trích, thật tự nhiên và sâu lắng, nói với ta bao điều giản dị mà cũng thật thiêng liêng, thật thấm thía. Một thế giới cổ tích, truyền thuyết xưa như ùa về, sống dậy trong tâm hồn người đọc: câu chuyện Trầu Cau với tình người nồng hậu, thủy chung, biểu tượng đạo lí sáng đẹp yêu thương của dân tộc; sự tích Thánh Gióng như khúc anh hùng ca tráng lệ tự hào, biểu tượng sức mạnh thần kì của nhân dân Việt Nam từ buổi bình minh non trẻ dựng nước và giữ nước. Hơi thở trải dài, trầm lắng ngân nga như tiếng lòng đất nước dội về tự thuở nào, gợi dậy quá trình sinh thành và tồn tại của đất nước. Nếu như trong cổ tích, truyền thuyết xưa, nhân dân là những cô Tấm, những chàng Thạch Sanh... hay hóa thân trong vẻ đẹp Thánh Gióng, Sọ Dừa, thì trên trang thơ Nguyễn Khoa Điềm, nhân dân hiện lên thân thương, gần gũi qua dáng hình của bà, của mẹ, của “dân mình”. Còn đất nước, không phải là một hình người khổng lồ xa lạ, hay là một khái niệm trừu tượng mà là những gì giản dị, thân thiết trong cuộc sống hàng ngày của mỗi con người. Đất nước hiện hình từ câu chuvện cổ tích của mẹ, miếng trầu của bà đến cái kèo, cái cột trong nhà, hạt gạo ta ăn hàng ngày. Tất cả những vật thân quen, bình dị ấy trong dời sống vật chất, cùng với những phong tục tập quán trong đời sông tinh thần của nhân dân: ăn trầu, trồng tre, búi tóc sau đầu, cách đặt tên người..., và cả tình yêu của con người (“cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”) đều làm nên khuôn mặt dân tộc - một dân tộc nghĩa tình, đằm thắm như trong câu ca dao gợi lên trong ta:
Oh Đất Nước sau hàng ngàn năm vẫn hiện diện khắp nơi ta đặt chân
Những cuộc đời đã biến thành những dãy núi sông của chúng ta.
Vượt qua thời gian dài lâu, nhìn xa vào hàng ngàn năm lịch sử của đất nước, có một vẻ đẹp lịch sử hùng vĩ như được hồi sinh. Ca dao xưa kể về lòng nhớ quê hương qua những hình ảnh thực tế và giản dị của bữa ăn bình thường và bóng dáng trong suốt giữa sương sớm và nắng chiều.
Nhìn lại quá khứ lâu dài của đất nước, chúng ta thường ghi nhớ các triều đại, ca ngợi những anh hùng ghi dấu trong trang sử vinh quang của dân tộc.
Nhận thức “Đất Nước của Nhân dân” như một sợi chỉ đỏ điều khiển cái nhìn về lịch sử của nhà thơ. Nhân dân chính là người tạo ra đất nước, chiến đấu để bảo vệ đất nước. Những cụm từ được lấy từ ca dao, tục ngữ: “nuôi con cùng con”, “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” tạo nên sự kết hợp tinh tế trong lời thơ. Điểm nhấn của bài ca ca ngợi nhân dân chính là điểm sáng rực rỡ trong phẩm chất của nhân dân:
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ tên mặt
Nhưng họ đã tạo ra Đất Nước.
Trong quan điểm của Nguyễn Khoa Điềm, nhân dân là một tập thể những anh hùng không tên. Họ sống giản dị, chết một cách bình tĩnh, chiến đấu không phải để ghi danh trong lịch sử mà vì một lý tưởng thiêng liêng, giản dị và cao cả: bảo vệ đất nước. Những câu thơ ngắn gọn, súc tích nhưng lại chứa đựng cảm xúc sâu sắc của tác giả, biểu lộ sự kích động chân thành trước những hi sinh im lặng, những đóng góp to lớn của những con người vô danh, hiền lành và giản dị.
Từ góc nhìn sâu sắc, tác giả nhấn mạnh vai trò quan trọng của nhân dân. Nhân dân, bằng máu mồ hôi của mình đã chiến đấu để bảo vệ và gìn giữ đất nước, họ là những anh hùng của cuộc chiến. Nhân dân, bằng sự lao động sáng tạo, đã xây dựng và bảo tồn đất nước, truyền lại cho thế hệ sau mọi giá trị văn hóa, phẩm chất tinh thần: từ việc trồng lúa để nuôi dưỡng văn hóa lúa nước, cho đến việc xây dựng nền văn minh của loài người và giữ gìn những giá trị tinh thần quý báu như phong tục tập quán, giọng điệu của cha ông, tên xã, tên làng... họ là những anh hùng của văn hóa. Nhân dân đã gieo mầm qua nhiều thế hệ nhưng phẩm chất cao quý được đúc kết trong những câu ca dao, tục ngữ đi vào lòng người, dễ nhớ dễ thuộc. Đó là gốc rễ của mọi tình cảm đẹp, tình yêu thương, thể hiện qua những câu ca dao mang tính hóm hỉnh:
Yêu em từ khi còn sơ sinh
Em nằm xuống em khóc, anh ngồi xuống anh ru
Đó là sự quý trọng của công lao động:
Cầm vàng mà vượt qua dòng sông
Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng
Đó vẫn là tinh thần mạnh mẽ và lòng căm thù sâu sắc với kẻ thù:
Thù này sẽ kéo dài mãi mãi
Trồng tre lên làm gậy, gặp đâu đánh lui
Sử dụng sáng tạo và linh hoạt các tài liệu ca dao trong văn học dân gian, dường như có một sự liên kết và gặp nhau trong tâm hồn của người cha ông xưa và thế hệ hiện tại. Để hiểu sâu sắc và trân trọng giá trị văn hóa dân tộc, tác giả cần phải có cái nhìn sâu sắc, mới lạ về quan điểm “Đất Nước của Nhân dân”.
Cảm hứng thơ trào dâng mạnh mẽ từ đó bộc lộ điểm sáng cốt lõi trong quan điểm đất nước của Nguyễn Khoa Điềm.
Để Đất Nước này thuộc về Nhân dân
Đất Nước của Nhân dân, Đất nước của truyền thống văn hóa dân gian.
Đoạn trích kết thúc bằng hình ảnh dòng sông mang nước từ những phương xa tắm mát tâm hồn chúng ta và vẻ đẹp của thiên nhiên, con người Việt Nam “phản chiếu nhiều màu sắc trên sông xuôi”. Điều này có thể là dòng sông của truyền thống lịch sử chảy về từ ngàn xưa, từ đó làm giàu cho tâm hồn của muôn thế hệ? Và lời thơ kết thúc rơi vào lòng người bởi sự xúc động chân thành của trái tim nhà thơ: “Ta xót xa cho Đất Nước Việt Nam ơi!”. Sự “xót xa” của nhà thơ thật đáng quý, đáng trân trọng, đó là kết quả của những cảm xúc mãnh liệt và suy tư, sâu sắc về đất nước, về vai trò to lớn và vẻ đẹp cao quý của nhân dân, là tiếng lòng chân thành của mỗi thế hệ hướng về nguồn cội dân tộc, hướng về truyền thống văn hóa, lịch sử bền vững mà nhân dân là người sáng tạo, bảo tồn và truyền lại cho con cháu sau này.
Có thể gọi Đất Nước là một tác phẩm thơ của Nguyễn Khoa Điềm, trong đó tác giả không chỉ viết theo dòng chảy cảm xúc mà còn kích hoạt thêm vào thơ kiến thức phong phú về địa lí, lịch sử, văn hóa dân gian với trung tâm là văn học dân gian. Đoạn trích được xây dựng theo phong cách trình bày luận đề, có “tư duy logic” dễ khiến thơ mất đi cái “xanh tươi của sự sống”, khô khan, chỉ tác động vào trí óc. Hơn nữa, với vốn hiểu biết phong phú, sự tổng hợp giữa kiến thức khiến thơ dễ bị trầm mình trong mơ ước, khô cứng như một bài diễn về xã hội học. Nhưng không! Viết về đất nước, về một nguồn cảm hứng lớn của thi ca nói chung và thơ cách mạng nói riêng, Nguyễn Khoa Điềm đã lựa chọn ra các nguyên liệu văn hóa dân gian, đưa vào ngôn ngữ thơ những chi tiết thực tế gần gũi, phổ biến, không chỉ làm quen thuộc trong nhận thức mà còn có sức sống tình cảm sâu sắc đối với mọi tâm hồn Việt Nam. Việc sử dụng dày, đậm nhưng cũng rất linh hoạt sáng tạo các nguyên liệu văn học dân gian tạo nên thế giới thơ đầy ý nghĩa, gắn bó mạnh mẽ với tâm hồn người đọc và dễ truyền đạt vào lòng người bởi ngôn ngữ dân gian hồn hậu, trong sáng. Chính việc sử dụng ngôn ngữ này tạo ra điệu văn học thẩm mĩ và không khí riêng cho đoạn thơ, đồng thời thể hiện rõ nét quan điểm “Đất Nước của Nhân dân” bởi nhân dân đã sáng tạo ra nền văn hóa dân gian giàu sức sống, quen thuộc gần gũi với mỗi người dân Việt.
Mặt khác, cảm xúc chân thành, mãnh liệt của nhà thơ mang lại cho tác phẩm âm hưởng sâu sắc, rộng lớn, với nhiều ngữ điệu từ cảm xúc mạnh mẽ và say mê đến sự trầm lặng như cuộc trò chuyện, tâm tình về nhận thức, cảm xúc về đất nước, nhân dân. Mỗi chi tiết, hình ảnh được trình bày đều chứa đựng tinh thần của nhà thơ, từ nhận thức cá nhân, kỉ niệm đến hồi ức, một cách thức tuyệt vời. Sự kết hợp hài hòa giữa tình cảm và lý luận cho tác phẩm vẻ đẹp riêng biệt, thơ không quá xa lạ mà thấm vào tâm hồn người đọc, ngôn ngữ biểu hiện cảm xúc sâu lắng nhưng vẫn phản ánh trí tuệ. Chúng ta được trải nghiệm cuộc sống của một nhà thơ - chiến sĩ chiến đấu trong ngọn lửa của cuộc chiến tranh cùng với văn hóa sâu rộng và tình cảm yêu thương đất nước, trân trọng, ca ngợi nhân dân đã tỏa sáng tư duy, tâm hồn nhà thơ.
Viết về chủ đề đất nước, thơ chống Mỹ của chúng ta không chỉ tiếp tục truyền thống yêu nước từ văn học giai đoạn trước và đặc biệt là thơ chống Pháp mà còn làm phong phú, sâu sắc thêm nguồn cảm hứng này. Nguyễn Trãi trước đây đã nhận thức được vai trò “lật thuyền mới hiểu dân như nước”, Phan Bội Châu từng viết “dân là dân nước, nước là nước dân”, nhưng phải đến Nguyễn Khoa Điềm, quan điểm “Đất Nước của Nhân dân” mới được thể hiện rõ nét và được nâng cao thành cảm hứng nghệ thuật của thơ chống Mỹ. Bằng cách khám phá, phát hiện về chiều sâu văn hóa - lịch sử của đất nước, mối liên kết giữa truyền thống quá khứ và hiện tại, với một con đường đi riêng: con đường của văn học dân gian thân thuộc, kỳ diệu, quan điểm của Nguyễn Khoa Điềm nhiễm vào từng hình ảnh, từng lời văn bản với một trí tưởng tượng, một trí tuệ phong phú và độc đáo. Có thể nói rằng đây là phần tinh túy nhất, sâu sắc nhất trong loạt thơ Mặt dường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm.
Văn học chống Mỹ cũng mang đậm những cảm xúc sâu sắc về nhân dân, đặt nền móng cho tình yêu quê hương: Nguyễn Duy suy ngẫm về nhân dân qua hình ảnh một Hơi ấm ở trang trại lúa- hay hình tượng Tre Việt Nam, còn Thanh Thảo trong trường ca Những người bước đi về biển đã lồng ghép vào những từ ngữ đầy cảm xúc nhất, về nhân dân:
Và nhân dân thường im lặng
Như mẹ tôi, sống lặng lẽ suốt cả cuộc đời
Và nhân dân vẫn ẩn hiện cao vời vợi
Hơn cả những vì sao đơn độc trên bầu trời
Tuy nhiên, có lẽ trong tác phẩm 'Đất Nước' của Nguyễn Khoa Điềm, với giai điệu 'Đất Nước của thần thoại', việc đưa ra quan điểm 'Đất Nước của Nhân dân' là điểm nhấn độc đáo, như một nốt nhạc vang lên trong bản giao hưởng của thơ chiến đấu, thể hiện tâm hồn và cảm xúc của thi nhân trước vẻ đẹp văn hóa dân tộc. Tư tưởng này vẫn giữ nguyên giá trị của mình cho đến nay, bởi trách nhiệm 'hiện thân cho hình ảnh của quê hương' luôn là một vấn đề quan trọng của thơ và cuộc sống.
Xem các ví dụ khác tại đây:
