
Thông tin cơ bản về Albert Sallet
Albert Sallet sinh vào ngày 17 tháng 9 năm 1877 tại làng La Souterraine thuộc Toulouse, một thành phố ở miền Tây Nam của Pháp. Năm 1899, ông gia nhập trường Chăm sóc Sức khỏe Hải quân và thuộc địa. Tháng 12 năm 1902, ông tốt nghiệp Y sĩ quân y. Năm 1903, ông được gửi sang Đông Dương thực tập với tư cách là một y sĩ dân sự làm việc tại Sở Y tế Hà Nội. Tại đây, ông tham gia vào chương trình tiêm chủng ngừa bệnh đậu mùa cho cộng đồng.
Sau khi nghỉ ở Pháp, năm 1906, Sallet quay trở lại Việt Nam và làm việc tại một bệnh viện dã chiến ở Đà Nẵng, nằm trong Binh đoàn Thuộc địa. Năm 1910, ông kết hôn với một cô gái thuộc gia đình Morin, đang sinh sống và làm việc tại Đà Nẵng. Trong thời gian này, ông tham gia vào cuộc chiến chống lại dịch bệnh hạch đang hoành hành ở miền Trung. Với những đóng góp trong công cuộc chống dịch, ông đã được trao tặng Huy chương vào năm 1911 và nhận được giấy khen từ Bộ trưởng Bộ Chiến tranh vào năm 1912.
Albert Sallet là một người đã làm việc trong nhiều năm tại khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng, ông có sự hiểu biết sâu rộng và một mối liên kết chặt chẽ với vùng đất này. Ông thông thạo tiếng Việt và tiếng Chăm, cũng như sở hữu bằng Thông dịch viên tiếng Việt. Ông đã sống ở đây gần 24 năm (trong đó có một thời gian ngắn làm việc tại Phan Thiết).
Năm 1913, ông đã tham gia vào việc thành lập Hội Đô thành Hiếu cổ (A.A.V.H) và trở thành người thứ hai trong hội, đảm nhận vai trò là thư ký của Tập san của Hội (B.A.V.H). Hội Đô thành Hiếu cổ, còn được gọi là Hội những người bạn của Huế xưa, với mục đích chính là “sưu tầm, bảo tồn và truyền đạt những dấu tích xưa về chính trị, tôn giáo, nghệ thuật và văn học châu Âu cũng như bản xứ liên quan đến Huế và các vùng lân cận”.
Năm 1919, ông tham gia vào việc xây dựng Viện Cổ Chăm tại Đà Nẵng. Năm 1926, ông gia nhập Trường Viễn Đông Bác cổ và được trường bổ nhiệm làm Quyền Giám đốc Viện Cổ Chăm tại Đà Nẵng, cũng như đảm nhận nhiệm vụ giám sát xuất khẩu các tác phẩm nghệ thuật Đông Dương.
Albert Sallet đã thực hiện nhiều nghiên cứu tâm huyết, với sự chuyên sâu về vùng đất Quảng Nam và đăng tải chúng trên BAVH. “Albert Sallet được biết đến là một trong những học giả Pháp nổi tiếng nhất trong quá trình khám phá, nghiên cứu và bảo tồn những giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng của người Việt, người Chăm và các dân tộc thiểu số bản địa khác trên địa bàn Quảng Nam…”, những nghiên cứu này đã khiến cho những nhà nghiên cứu sau này phải ngưỡng mộ và tôn vinh ông là “nhà nghiên cứu dân tộc Quảng Nam xuất sắc nhất” (Trần Đức Anh Sơn).
Các tài liệu về Quảng Nam
Nhà nghiên cứu Nguyễn Sinh Duy đã tổ chức sưu tầm các tác phẩm của Albert Sallet và tạo ra Thư viện Albert Sallet (Quảng Nam và các vấn đề lịch sử, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, 2005) với hơn 60 nghiên cứu thuộc mọi lĩnh vực từ dân tộc học đến khảo cổ, kiến trúc, lịch sử, địa lý, thực vật, y học… được đăng trên nhiều Tạp chí và Kỷ yếu như của BAVH (Tạp chí của Hội Đô thành Hiếu cổ), BEFEO (Tạp chí của Trường Viễn Đông Bác cổ), B.E (Kỷ yếu Kinh tế Đông Dương), BSEI (Kỷ yếu Hội nghiên cứu Đông Dương), MASIT (Kỷ yếu Viện Hàn lâm khoa học, Bi ký và Văn chương thành phố Toulouse)…
Trong số những nghiên cứu này, có 6 nghiên cứu hoàn toàn tập trung vào vùng Quảng Nam – Đà Nẵng. Tuy nhiên, các nghiên cứu khác về thực vật (cây hà thủ ô, cây mã đề, cây sả…), y học (sán đường ruột và phương pháp trị liệu của người An Nam và người Minh Hương, Y học An Nam và cách chế biến thuốc…) hay về văn hóa của người Chăm… mặc dù có sự đề cập đến vấn đề tổng quát hoặc cả vùng Trung Kỳ, nhưng cũng đều được nghiên cứu, khảo sát một phần từ vùng Quảng Nam – Đà Nẵng. Sáu tài liệu về vùng Quảng Nam là những tài liệu quan trọng có giá trị lớn:
– Hội An xưa (Kỷ niệm Chàm, Kỷ niệm Nhật Bản, Những ngôi mộ của người Châu Âu). BAVH, năm 1923.
– Lưu dấu Chàm trong truyền thống dân gian và tín ngưỡng của người An Nam tại Quảng Nam. BAVH, 1923.
– Cụm núi cẩm thạch Ngũ Hành Sơn. BAVH, 1924.
– Núi Bà Nà, điểm cao nhất của Trung Trung Kỳ. BAVH, 1924.
– Chiến dịch quân sự của Pháp và Y pha nho tại Trung Trung Kỳ, chiếm Đà Nẵng năm 1858 – 1859. BAVH, 1928.
– Mộ bia châu Âu tọa lạc tại bệnh viện Hội An. BAVH, 1928.
Nghiên cứu về Ngũ Hành Sơn của ông có 195 trang, trong đó bao gồm 43 trang ảnh về phong cảnh và đời sống của những người ở Ngũ Hành Sơn, 6 trang sơ đồ vị trí các ngọn núi, mạng lưới sông ngòi, các khu vực dân cư xung quanh Ngũ Hành Sơn và khu vực lân cận, cùng 2 trang họa đồ về các chùa, hang động, nơi thờ cúng tại núi Tam Thai và hòn Thủy Sơn.
Nghiên cứu này bao gồm 8 phần, bao gồm: Mô tả tổng thể và từng ngọn núi (đồng thời so sánh với những mô tả trước đó); đặc điểm địa chất và thực vật; truyền thuyết và lịch sử; cuộc sống và tín ngưỡng của các tu sĩ; công việc khai thác và chế biến đá; giới thiệu hai bảng văn bia trên núi và hướng dẫn các tuyến đường đến Ngũ Hành Sơn.
Có thể xem đây là một công trình toàn diện nhất, cơ bản nhất về ngọn núi này mà bất kỳ nhà nghiên cứu nào sau ông cũng phải tham khảo.
Tuy nhiên, biên khảo “Lưu dấu Chàm trong truyền thống dân gian và tín ngưỡng của người An Nam tại Quảng Nam” đăng trên BAVH năm 1923 có thể xem là một nghiên cứu quan trọng, sâu sắc và công phu nhất, đã tạo nên danh tiếng cho ông và ông xứng đáng nhận danh hiệu “nhà nghiên cứu Quảng Nam”. Để hoàn thành nghiên cứu này, Sallet đã đi khắp “hàng hóa ngõ hẻm” của Quảng Nam, không chỉ đến các địa điểm có nhiều di tích quan trọng như Đồng Dương, Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Chiên Đàn, Khương Mỹ, Bằng An, Ngũ Hành Sơn mà còn đến hơn 40 địa điểm khác ở Đà Nẵng, Hòa Vang, Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, Thăng Bình, Quế Sơn, Tam Kỳ, Phú Ninh, Núi Thành…, nhiều nơi chỉ có một vài di tích nhỏ, một tấm bia, một giếng Chăm, một viên đá, một pho tượng Chăm. Ông cũng đã leo lên tận Núi Chúa, lội sông Thu Bồn để khảo sát các bảng văn bia Chăm chìm dưới nước ở Chiêm Sơn (Duy Xuyên) và Thạch Bích (Nông Sơn).
Albert Sallet (cùng với Parmentier, Finot, Yersin, J. Roux…) đã đóng góp vào việc làm cho hình ảnh của chủ nghĩa thực dân Pháp ít “ám ảnh” hơn. Họ thuộc thế hệ thứ hai với tư duy du thám, thích nghi, khám phá và tôn trọng các giá trị bản xứ thông qua các nghiên cứu biên khảo có giá trị!
Theo LÊ THÍ - Báo Quảng Nam
