
| Thầu dầu | |
|---|---|
Cây thầu dầu | |
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Plantae |
| (không phân hạng) | Angiospermae |
| (không phân hạng) | Eudicots |
| (không phân hạng) | Rosids |
| Bộ (ordo) | Malpighiales |
| Họ (familia) | Euphorbiaceae |
| Phân họ (subfamilia) | Acalyphoideae |
| Tông (tribus) | Acalypheae |
| Phân tông (subtribus) | Ricininae |
| Chi (genus) | Ricinus |
| Loài (species) | R. communis |
| Danh pháp hai phần | |
| Ricinus communis L. | |
Nhà thầu dầu hay còn được gọi là đu đủ tía (tên khoa học: Ricinus communis) là một loài thực vật thuộc họ Đại kích (Euphorbiaceae) và là đại diện duy nhất của chi Ricinus cũng như phân tông Ricininae.
Từ Ricinus có nguồn gốc từ tiếng Latinh, để chỉ các loài bọ (thuộc bộ Acarina); hạt của cây được gọi như thế vì nó giống như một con bọ. Đây là nguồn gốc của dầu thầu dầu có nhiều ứng dụng và ricin, một chất độc (ricin từ 1-2 hạt thầu dầu có thể gây tử vong cho người lớn).
Mô tả chi tiết
Mặc dù có nguồn gốc từ vùng Đông Phi, nhưng hiện nay cây này đã phân bố rộng khắp thế giới. Nhà thầu dầu thích nghi dễ dàng với môi trường mới và có thể được tìm thấy ở những vùng đất bỏ hoang, ven đường sắt hoặc được trồng nhiều để làm cảnh trong các công viên và khu công cộng khác.
Các hạt của thầu dầu cũng được phát hiện trong các mộ cổ Ai Cập có niên đại từ khoảng năm 4000 TCN. Herodotus và những nhà thám hiểm Hy Lạp cổ đại đã ghi nhận việc sử dụng dầu từ hạt thầu dầu để chiếu sáng và sử dụng dầu thoa lên cơ thể.
Việc sử dụng dầu từ hạt thầu dầu tại Ấn Độ đã được ghi nhận từ những năm 2000 TCN để chiếu sáng và trong y học cổ đại như một loại thuốc bổ dạ dày. Hạt thầu dầu và dầu của nó cũng đã được sử dụng ở Trung Quốc trong hàng thế kỷ, chủ yếu để làm đơn thuốc trong y học hoặc sử dụng trong băng bó.

Mặc dù chỉ có một loài nhưng thầu dầu có thể có nhiều biến thể về hình dạng và phát triển. Một số cây là loại cây lâu năm có thể đạt đến kích thước nhỏ của một cây gỗ nhỏ trong khi một số cây khác là loại cây thân thảo và sinh trưởng năm. Cũng tồn tại nhiều dạng hình và màu sắc lá khác nhau và chúng được lai tạo để trở thành cây cảnh. Những ấu trùng của một số loài bướm đêm thuộc bộ Cánh vẩy như Ecpantheria scribonia, Hypercompe hambletoni và Discestra trifolii làm hại cây thầu dầu.
Hạt của thầu dầu chứa khoảng 40-60% dầu, chủ yếu là ricinolein, một loại triglyceride.
Dầu thầu được sản xuất trên toàn cầu
Sản lượng dầu thầu toàn cầu khoảng 1,2-1,3 triệu tấn mỗi năm. Ấn Độ, Trung Quốc và Brasil là những nơi sản xuất nổi bật nhất.
|
Sản lượng hạt thầu dầu. Niên vụ 2003-2004 | |||||
| Ấn Độ | 804.000 | 66 % | 804.000 | 61 % | |
| Trung Quốc | 258.000 | 21 % | 275.000 | 21 % | |
| Brasil | 77.970 | 6 % | 149.099 | 11 % | |
| Các nước khác | 82.950 | 7 % | 83.580 | 6 % | |
| Tổng cộng | 1.222.920 | 100 % | 1.311.679 | 100 % | |


Hình ảnh được chụp dưới kính hiển vi điện tử
Tác hại của dầu thầu
Thầu dầu (Ricinus) là loài cây rất dễ gây dị ứng, được xếp hạng 10 trên 10 trên thang điểm dị ứng OPALS. Loại cây này cũng là nguyên nhân chính gây hen suyễn mạnh mẽ và dị ứng với Thầu dầu rất phổ biến và nghiêm trọng.
Cây thầu dầu sản sinh một lượng phấn hoa lớn, rất nhẹ, dễ bay vào không khí và có thể gây phản ứng dị ứng khi hít vào phổi. Nhựa cây này cũng gây phát ban da. Những người bị dị ứng với cây này cũng có thể bị phát ban khi tiếp xúc với lá, hoa hoặc hạt. Những cá nhân này cũng có thể có phản ứng dị ứng chéo với nhựa mủ từ cây Hevea brasiliensis có liên quan.
Độc tính của hạt thô từ cây thầu dầu là do sự tồn tại của chất ricin. Mặc dù liều gây tử vong ở người lớn được coi là từ 4 đến 8 hạt, nhưng các trường hợp ngộ độc thực tế lại tương đối hiếm. Theo Kỷ lục Guinness Thế giới, đây là loài cây có độc nhất thế giới. Các triệu chứng của việc sử dụng quá liều ricin có thể bao gồm buồn nôn, tiêu chảy, nhịp tim nhanh, hạ huyết áp và co giật kéo dài trong một tuần. Chất độc có thể được chiết xuất từ thầu dầu thông qua một quy trình rất phức tạp, tương tự như quy trình chiết xuất xyanua từ hạnh nhân.
Nếu nuốt phải chất ricin, các triệu chứng thường xuất hiện trong vòng 2 đến 4 giờ, tuy nhiên có thể bị trì hoãn đến 36 giờ. Triệu chứng bao gồm cảm giác nóng rát ở miệng và cổ họng, đau bụng, mót rặn và tiêu chảy có máu. Trong vài ngày, tình trạng mất nước nghiêm trọng, tụt huyết áp và giảm lượng nước tiểu có thể xảy ra. Nếu không được điều trị, tử vong có thể xảy ra trong 3-5 ngày; tuy nhiên, hầu hết các trường hợp đều có thể phục hồi hoàn toàn.
Ngộ độc xảy ra khi động vật, bao gồm cả con người, nuốt phải hạt thầu dầu đã vỡ hoặc nhai vỡ hạt: những hạt vẫn còn nguyên vẹn có thể đi qua đường tiêu hóa mà không phát hành chất độc. Chất độc này giúp cho cây thầu dầu tự nhiên bảo vệ khỏi côn trùng gây hại như rệp vừng. Ricin cũng đã được nghiên cứu về khả năng sử dụng làm thuốc trừ sâu. Cây thầu dầu cũng là nguồn cung cấp axit undecylenic, một chất tự nhiên có tác dụng diệt nấm.
Dầu thầu dầu ép lạnh hiện có sẵn trên thị trường và không gây hại cho sức khỏe con người ở liều lượng thông thường, dù sử dụng ngoài da hay uống vào.
Phân loại
- Ricinus communis var. sanguineus: Thầu dầu tía, còn gọi là đu đủ tía
Chú thích
- Dữ liệu liên quan đến Ricinus communis có sẵn trên Wikispecies
