
Sự mở rộng của nhân học
Nhân học nói chung và nhân học văn hóa nói riêng tại Việt Nam hiện nay đang trở thành một hiện tượng, một chuyên ngành tương đối mới mẻ. Thế nhưng trên thế giới, nhân học văn hóa đã trải qua một quá trình vận động và phát triển dài từ những năm cuối thế kỉ XIX cho tới nay. Nhân học văn hóa xuất phát từ nhân học xã hội Anh, với hai đại diện tiêu biểu là Edward Burnett Tylor (Văn hóa nguyên thủy, 1871) và James Frazer (Cành vàng, 1890). Họ là những nhà “nhân học ghế bành” theo chủ trương tiến hóa luận văn hóa (cultural evolutionism). Ghế bành ở chỗ, phương pháp của họ không chú trọng vào điền dã thực địa mà nghiên cứu so sánh dựa trên các dữ liệu thứ cấp là các tác phẩm văn học và lịch sử cổ điển, các ghi chép của những nhà du lịch, phiêu lưu thám hiểm, những nhà truyền đạo và các tác phẩm dân tộc chí đương thời. Nhận ảnh hưởng từ thuyết tiến hóa của Darwin đang chi phối cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội lúc bấy giờ, công trình của họ mang quan điểm văn hóa có một tiến trình phát triển theo biên niên lịch đại, từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, mà đỉnh tháp của nó là nền văn minh phương Tây. E.B.Tylor cùng với nhà nhân học xã hội Mĩ Lewis Henry Morgan (Xã hội cổ sơ, 1877) chia văn hóa thành ba giai đoạn phát triển, từ mông muội sang man dã rồi tới văn minh.
Tương phản với xu hướng tiến hóa luận, các nhà nhân học văn hóa Mĩ, với người tiên phong là Franz Boas, đã đề xuất chủ nghĩa đặc thù lịch sử (historical particularism) và tương đối luận văn hóa (cultural relativism). Kể từ đây, mọi nền văn hóa đều bình đẳng với nhau, không có hơn kém, cao thấp, chỉ có khác biệt. Thậm chí, nghiên cứu nhân học văn hóa còn góp phần đấu tranh cho sự bình đẳng giữa các tộc người, tiến tới xóa bỏ định kiến phân biệt chủng tộc. Các nhà nhân học ghế bành nhường chỗ cho những nhà “nhân học thực địa” với phương pháp chủ đạo là quan sát tham dự, hòa mình vào cuộc sống của đối tượng nghiên cứu bản địa. Thay vì tiếp xúc gián tiếp thông qua tài liệu thứ cấp, các nhà nhân học đã tìm cách học ngôn ngữ bản địa của những người thổ dân, đến sống cùng họ, tham gia vào những hoạt động hàng ngày của họ để hiểu tường tận về những con người này. Trường phái của Franz Boas, như một cái cây, càng phát triển thì càng có nhiều cành lớn vươn ra xa và vươn lên cao, với những học trò xuất sắc như Alfred Kroeber, Margaret Mead, Ruth Benedict, Edward Sapir… Kroeber, bằng các nghiên cứu về người da đỏ ở California, xây dựng khái niệm vùng văn hóa và mô thức văn hóa. Hai nhà nhân học nữ Benedict và Mead đã góp phần xác lập trường phái văn hóa và nhân cách, cũng như xây dựng được mô hình tính cách dân tộc. Còn Sapir tập trung nghiên cứu ngôn ngữ tộc người và từ đó nêu ra giả thuyết về tính tương đối của ngôn ngữ (giả thuyết Sapir-Whorf), tức sự tác động qua lại giữa phạm trù ngữ pháp và mô thức tư duy, ứng xử của người sử dụng ngôn ngữ.
Sự tiến triển đột phá của các tình huống bên ngoài đã dẫn đến sự thay đổi của cả chủ thể và nội dung của nhân học văn hóa, làm cho vấn đề nghiên cứu trở nên phong phú và sâu sắc hơn. Bản chất của nhân học văn hóa hiện đại, không chỉ ở Mỹ mà còn trên toàn thế giới, đã trải qua sự chuyển biến từ cổ điển đến hiện đại và hậu hiện đại, đặt trong ngữ cảnh toàn cầu hóa, xã hội tri thức công nghiệp, cộng đồng ảo, môi trường sinh thái, và quyền lợi của các cộng đồng thiểu số (bao gồm cộng đồng LGBT, người da màu)...
Bước ngoặt quan trọng mang tên “nhân học văn học”
Như một xu hướng không thể tránh khỏi, nhân học và văn học đã tiến triển cùng nhau từ cá nhân đến phổ quát. Với tư cách là một lĩnh vực chuyên biệt, cả nhân học văn hóa và văn học so sánh đều chú trọng vào việc so sánh văn hóa của hai quốc gia. Mối liên kết sâu sắc giữa hai lĩnh vực này đã được thể hiện từ mức độ phương pháp. Hai phương pháp chính trong văn học so sánh, nghiên cứu song hành và nghiên cứu ảnh hưởng tiếp nhận, đều có cơ sở từ mối liên hệ này. Yếu tố quan trọng nhất trong nghiên cứu song hành là tính dân tộc trong ngữ cảnh văn học quốc tế. Khởi nguồn từ việc nhận diện đặc thù, bản sắc của mỗi dân tộc, mục tiêu là thúc đẩy sự giao lưu và phát triển tiến bộ của một tổng thể chung, tức thế giới. Quan điểm này phản ánh triết lý tương đối về văn hóa của nhân học, nhấn mạnh vào sự khác biệt giữa các nền văn hóa, nhưng vẫn tôn trọng tính độc đáo và độc lập của từng văn hóa, thay vì phủ nhận lẫn nhau, cũng như tiến tới tôn trọng sự đa dạng đồng nhất của thế giới.
Tuy nhiên, sự hiện diện của một lĩnh vực giao thoa mới dưới hình thức “tiếp cận nhân học văn học” hoặc “nghiên cứu văn học từ góc độ nhân học” đã đến khá muộn. Các nhà nhân học từ các trường phái khác nhau, đặc biệt là các nhà nhân học Mỹ trong giai đoạn từ năm 1920 - 1930, đã mang lại một cái nhìn mới, một cái nhìn sâu sắc về văn hóa. Thông thường, chúng ta đặt niềm tin vào sự thật như một yếu tố cơ bản để phân biệt giữa hư cấu và các loại khác. Hư cấu là sự sáng tạo một cách chủ quan, trong khi các lĩnh vực như khoa học xã hội, báo chí và ký sự tường thuật sự kiện thì có thật. Tuy nhiên, từ góc độ của văn học và nhân học ngày nay, ranh giới này đã trở nên mơ hồ. Mặc dù các nhà nhân học tuân thủ các quy định nghề nghiệp để trình bày
Có vẻ như, nhân học đã áp dụng những phương pháp văn học để làm sáng tỏ hơn vị trí của tác giả, thúc đẩy cách tiếp cận đa thanh với tính tương tác, tiết lộ những khoảng trống trong các diễn ngôn chuẩn mực, và làm rõ mối liên kết giữa thực hành dân tộc học và nhân học. Ngoài những nghiên cứu khô khan dựa trên số liệu thống kê, các nhà nhân học còn dẫn dắt người đọc đến một thế giới sống động và lãng mạn về cuộc sống của con người bản địa, thông qua ngôn từ đầy cảm xúc và phong phú. Điều này thực sự là một trải nghiệm thuần túy của văn học. Tuy nhiên, sau giai đoạn 1920 - 1930, các nghiên cứu nhân học theo kiểu văn học đã dần bị phản đối, thậm chí các tác phẩm nổi tiếng như “Tuổi trưởng thành ở Samoa” (1928) của Margaret Mead và “Các mô thức văn hóa” (1934) của Ruth Benedict cũng bị chỉ trích. Điều đó cho thấy tầm ảnh hưởng của Tuổi trưởng thành ở Samoa trong thế kỷ XX, khi trở thành một trong những tác phẩm nhân học được ưa chuộng nhất và là tấm gương cho phong cách nhân học thực địa. Điều làm nên thành công của tác phẩm và khiến nó được đón nhận rộng rãi chính là sự hấp dẫn từ lối viết duyên dáng của Margaret Mead.
Ranh giới giữa lý thuyết và thực tiễn văn học với nhiều nhánh nhân học khác nhau đã cản trở sự phát triển của các quan điểm mới trong lĩnh vực phê phán văn học đặc biệt và lý thuyết văn học nói chung, đặc biệt là các dạng tự sự. Để đạt được những tiến bộ mới trong nghiên cứu văn học, chúng ta cần vượt qua ranh giới của văn chương. Trong tác phẩm “Văn hóa viết” (Writing Culture, 1986) của Clifford James và George Marcus, dân tộc học lần đầu tiên được đặt vào tâm điểm của nhân học diễn giải, nghiên cứu văn hóa, lịch sử xã hội, du lịch, lý thuyết diễn ngôn và phê phán văn bản. Tác phẩm này đã nhìn lại mối quan hệ giữa nhân học và sáng tác, đồng thời giải quyết những vấn đề quyền lực và lý thuyết giữa các bối cảnh đương đại như toàn cầu hóa, hậu thuộc và hậu hiện đại. Bước ngoặt trong nhân học văn học được tạo ra bởi tác phẩm này đã khuyến khích các nhà nhân học đánh giá đúng bản chất và quyền uy được ngụ ý trong tác phẩm dân tộc học.
Có cách nào khác để phân biệt nhân học văn học không? Theo Nigel Rapport (2012), nhân học văn học thực sự bao gồm hai khía cạnh nghiên cứu. Một là nghiên cứu vai trò của văn học trong cuộc sống xã hội và trải nghiệm cá nhân, trong một ngữ cảnh xã hội, văn hóa và lịch sử cụ thể. Hai là nhận thức và biểu hiện. Do đó, nhân học văn học đã trở thành một chủ đề quan trọng trong nghiên cứu nhân học, bởi vì nó tiết lộ toàn bộ bản chất con người và cách thức để nhân hóa trải nghiệm cá nhân.
Sự phát triển của nhân học văn học trên thế giới vẫn đang tiếp diễn. Theo Ellen Wiles (2018), có ba xu hướng chính của nhân học văn học ngày nay. Đó là việc sử dụng các văn bản văn học làm nguồn tài liệu, việc sử dụng các phương pháp văn học trong viết và ứng dụng nhân học để nghiên cứu thực hành văn học và đời sống văn chương, văn hóa.
Con đường tiếp cận nhân học văn học ở Việt Nam
Ở Việt Nam, sự phát triển của văn học đồng thời đặt ra nhu cầu thử nghiệm các phương pháp nghiên cứu mới. Việc kết hợp nhiều phương pháp khác nhau của các môn khoa học xã hội và nhân văn để nghiên cứu văn học đang được khuyến khích. Nhân học văn học đang dần tìm được vị trí của mình trong lĩnh vực nghiên cứu này.
Một bước quan trọng đầu tiên của nhân học văn học ở Việt Nam là công trình Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực của Đỗ Lai Thúy. Trong nghiên cứu này, Đỗ Lai Thúy đã giải quyết được những song đề mâu thuẫn trong thơ Hồ Xuân Hương bằng cách tiếp cận mới, từ góc độ văn hóa dân gian và tín ngưỡng phồn thực, từ đó đưa ra những hiểu biết mới về thơ của Hồ Xuân Hương.
Một hướng tiếp cận văn học từ góc độ nhân học văn hóa ở Việt Nam là khám phá tâm hồn của dân tộc. Khác với phương Tây, ở Việt Nam, chúng ta thấy nét đặc trưng của văn hóa là điểm nhấn cho tâm hồn dân tộc. Theo nhà nhân học George Devereux, giữa văn hóa và tâm hồn dân tộc có mối liên hệ tương quan: 'Văn hóa là tâm hồn dân tộc phản chiếu ra bên ngoài, còn tâm hồn là văn hóa phản chiếu vào bên trong'. Thông qua văn học dân gian, ta mở ra cánh cửa tâm hồn của dân tộc.
Nhân học văn hóa đã đưa ra quan điểm mới trong việc nghiên cứu văn học, mang lại những kết quả đáng chú ý. Một ví dụ điển hình là cách nhìn mới về tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp do nhà nghiên cứu Mai Anh Tuấn đề xuất. Theo Mai Anh Tuấn, Nguyễn Huy Thiệp không chỉ là một nhà văn mà còn là một nhà nhân học. Tác phẩm của ông phản ánh cấu trúc xã hội đa dạng của Việt Nam và nhiều chủ đề nhân học.
Cuốn sách 'Phong hóa thời hiện đại - Tự Lực văn đoàn trong tình thế thuộc địa ở Việt Nam đầu thế kỉ 20' không chỉ là một công trình văn học mà còn là một tác phẩm mang tính nhân học cao. Tác giả không chỉ phân tích văn chương mà còn mở rộng tiếp cận sang nhiều lĩnh vực khác như chuẩn mực thẩm mỹ, đối thoại giữa thành thị và xã hội nông thôn, luật pháp và xã hội dân sự.
Diễn trình của phê bình văn học là từ phê bình ngoại quan sang phê bình nội quan và trở lại phê bình ngoại quan nhưng ở mức độ sâu hơn, đó chính là việc đưa văn học trở lại văn hóa. Đóng góp lớn nhất của nhân học văn học là việc vượt ra ngoài văn bản, từ đó đưa văn học trở thành một phần của nhân học.
Nguồn VNQĐ
*Tên bài viết được đặt bởi Vannghe
