Trong suốt hơn 7 thập kỷ, con người đã đưa đủ loại động vật từ khỉ, nhện, cá, mèo, cho đến vi khuẩn lên vũ trụ.

Hình ảnh của Chó Laika trước khi lên tàu Sputnik 2 vào năm 1957.
Liên Xô đã đưa một số chú chó lên vũ trụ trong giai đoạn đầu của chương trình không gian, bao gồm cả Laika - con chó đầu tiên được đưa lên quỹ đạo Trái Đất. Laika đã hy sinh trong nhiệm vụ này. Những thí nghiệm này cơ bản là thô sơ so với tiêu chuẩn hiện đại, vì Laika, một chó lang thang, sau đó được đưa vào trung tâm huấn luyện.
Trước nhiệm vụ của Laika vào năm 1957, Liên Xô đã tiến hành một số cuộc thử nghiệm đưa chó lên độ cao lớn. Năm 1951, một chú chó tên Smelaya đã thoát khỏi ngày trước khi được phóng, và có thể nó đã bị sói săn ăn. May mắn thay, Smelaya đã trở lại vào ngày hôm sau và chuyến bay thử nghiệm đã thành công. Vào cuối năm đó, một chú chó khác tên là Bobik cũng bỏ trốn, nhưng lần này không quay trở lại. Tuy nhiên, nhóm đã tìm thấy một chú chó thay thế, một chú chó lang thang được tìm thấy gần một quán rượu địa phương. Họ đặt tên cho nó là ZIB - viết tắt của 'Người thay thế cho chú chó mất tích Bobik' trong tiếng Nga. Đây là một ví dụ hài hước về việc đi chơi ở quán bar một ngày và sau đó được phóng lên độ cao 100 km vào hôm sau.

4 con chuột tham gia nhiệm vụ Discoverer 3.
Câu chuyện đầy cảm động về những chuột tiên phong vào không gian từ những năm 1950, mặc dù các sứ mệnh ban đầu thường kết thúc trong thảm họa. Vào năm 1959, Không quân Hoa Kỳ đã thực hiện một nỗ lực phóng từ Căn cứ Không quân Vandenberg, nhưng sau đó các cảm biến không phát hiện được dấu hiệu sống trong viên nang Discoverer 3. Bốn con chuột được phát hiện đã chết, do kỹ sư đã sử dụng quá nhiều sơn để phun lên lồng của chúng. Có vẻ như những con chuột đã thích hơn loại sơn này hơn thức ăn cung cấp.
Nỗ lực phóng thứ hai với đội chuột dự phòng cũng gặp thất bại, khi các cảm biến ghi nhận độ ẩm 100% bên trong khoang chứa. Tuy nhiên, theo NASA, vì các cảm biến được đặt dưới lồng, chúng đã “không thể phân biệt được sự khác biệt giữa nước và nước tiểu chuột”. Vụ phóng sau đó được tiến hành khi đám nước tiểu chuột khô đi. Nhưng tên lửa đã phóng thất bại, và phần trên cùng với bốn con chuột đã lao xuống Thái Bình Dương.

Con tinh tinh trẻ được huấn luyện tại trung tâm phóng Mũi Canaveral, Florida, Mỹ.
Ham là tên của con tinh tinh đầu tiên bay vào không gian, vào ngày 31/1/1961. Mục tiêu chính của sứ mệnh Mercury-Redstone do NASA thực hiện là để xác định khả năng của động vật trong không gian. Ham đã được dạy cách nhận phần thưởng và tránh bị trừng phạt dưới dạng giật điện. Dưới áp lực của không gian, Ham đã thể hiện sự xuất sắc.
Thành công của thử nghiệm này đã mở ra cánh cửa cho Alan Shepard, người trở thành người Mỹ đầu tiên bay vào không gian vào năm 1961. Sau đó, Ham sống trong các vườn thú.

Félicette trước chuyến bay lịch sử của mình.
Vào ngày 18/10/1963, chương trình vũ trụ của Pháp đã phóng Félicette - một con mèo Ba Tư - lên không gian. Các điện cực được cấy vào hộp sọ của con mèo để theo dõi hoạt động thần kinh và kích hoạt các phản ứng thể chất. Ngạc nhiên thay, cho đến nay, Félicette vẫn là con mèo duy nhất thành công trên quỹ đạo. Nó đã bay trong 15 phút, ở độ cao gần 160km, trước khi trở về Trái Đất an toàn. Sau chuyến bay, các nhà khoa học đã cho nó một 'cái chết êm ái' để nghiên cứu não của nó.
Vào năm 2017, một chiến dịch gây quỹ từ cộng đồng đã thành công trong việc xây dựng một đài tưởng niệm cho Félicette. Đó là một bức tượng đồng mô tả con mèo “ngồi trên Trái đất, nhìn lên bầu trời mà nó đã từng đi qua”. Bức tượng hiện đang được trưng bày tại Đại học Không gian Quốc tế ở Pháp.

Veterok và Ugolyok.
Vào tháng 2/1966, chương trình vũ trụ của Liên Xô đã đưa hai chú chó Veterok và Ugolyok ra ngoài vành đai bức xạ Van Allen để nghiên cứu tác động kéo dài của du hành vũ trụ cũng như tác động có hại của bức xạ. Chúng đã ở trong không gian 21 ngày. Khi trở về, chúng mất nước và giảm cân. Veterok và Ugolyok cũng bắt đầu có dấu hiệu suy yếu tuần hoàn, teo cơ và mất khả năng phối hợp. Cả hai đã mất một tháng để hồi phục. Điều này cũng là dấu hiệu đầu tiên cho thấy ảnh hưởng tiêu cực của việc ở lâu trong không gian đối với sức khỏe.

Một 'vườn thú' đã bay quanh Mặt trăng.
Trong sứ mệnh Zond 5 của Liên Xô vào năm 1968, một loạt sinh vật đã thực hiện một chuyến đi lịch sử quanh Mặt trăng và trở về. Với sự tham gia của một cặp rùa Steppe, hàng trăm trứng ruồi giấm, sâu, thực vật và vi khuẩn, nhiệm vụ đã kết thúc thành công với viên nang rơi xuống Ấn Độ Dương. Rùa vẫn còn sống khi đáp xuống Trái đất. Kết quả mổ xẻ sau đó cho thấy sau “39 ngày đói”, những thay đổi chính của chúng là do bị đói chứ không phải do chuyến đi vào không gian.
Một sứ mệnh tương tự được thực hiện vào cuối năm đó, nhưng đã gặp phải sự cố bất thường dẫn đến mất áp suất trong cabin và khiến tất cả các mẫu sinh học đều chết.

Những con cá lần đầu tiên được đưa lên không gian.
Những con cá nhỏ bé, cùng với một lứa cá phát triển từ phôi thai, đã được NASA đưa lên vũ trụ. Những con nhum (tên khoa học Fundulus heteorclitus) đã thể hiện hành vi bơi lội kỳ lạ, di chuyển theo vòng lặp trong không gian. Theo NASA, có vẻ như những con cá phản ứng với ánh sáng (tức là tín hiệu thị giác) trong điều kiện không trọng lực. Chúng sau đó đã được gửi đến Skylab vào năm 1973. Các nhà khoa học đã tìm cách nghiên cứu cách mà chức năng tiền đình, nơi kiểm soát sự cân bằng trong trọng lực bình thường, có thể bị tổn thương trong không gian.

Chiếc mạng đầu tiên của Arabella gặp vấn đề, nhưng những mạng sau đều không có vấn đề gì.
Năm 1973, Anita và Arabella, hai con nhện chữ thập (Araneus diadematus) đã được gửi lên vũ trụ để dệt mạng. Ban đầu, cả hai đều gặp khó khăn với trạng thái không trọng lực, loay hoay trong việc di chuyển và tạo ra những mạng lưới lộn xộn. Nhưng chúng nhanh chóng học được cách thích ứng và cả Anita và Arabella đã trở nên khéo léo hơn trong việc dệt mạng sau đó. Mọi thứ ngày càng trở nên mượt mà và không khác gì những tác phẩm được tạo ra trên Trái đất.

Những con giun tròn C. elegans, đang tham gia cuộc thử nghiệm trên Tàu con thoi.
Tất cả bảy thành viên phi hành đoàn đã thiệt mạng trong thảm họa tàu con thoi Columbia năm 2003. Nhưng, những con giun tròn bên trong thùng chứa của con tàu đã sống sót sau thảm họa. Dung dịch dinh dưỡng mà chúng được lưu trữ bên trong đã đóng vai trò như một tấm chắn, cũng như vật chứa để giữ chúng sống sót. Những chiếc hộp chứa chúng đã rơi từ trên trời xuống sau vụ nổ, hạ cánh xuống một nơi nào đó ở phía đông Texas, cùng với các mảnh vỡ chính của tàu con thoi. Những con giun này sau đó đã tạo ra tới 5 thế hệ, trong vài tháng sau vụ tai nạn.

Gấu nước dưới kính hiển vi.
Trước sự ngạc nhiên của tất cả mọi người, một nhóm gấu nước (tardigrades) đã có thể sống sót sau 10 ngày tiếp xúc với không gian mở trên vũ trụ. Thí nghiệm xảy ra vào năm 2007 trong khuôn khổ sứ mệnh FOTON-M3 của Cơ quan Vũ trụ Châu Âu. Gấu nước, vốn được biết tới là loài có khả năng sinh tồn mạnh nhất trên Trái đất, đã chứng minh khả năng này vẫn hữu ích cả ở ngoài vũ trụ. Ingemar Jönsson, trưởng dự án, cho biết: “Môi trường mở ngoài vũ trụ có thể dẫn tới mất nước và hàng loạt bức xạ độc hại, nhưng đó không phải là vấn đề đối với gấu nước'.

Khi tàu con thoi Discovery chuẩn bị phóng cho sứ mệnh STS-119 vào tháng 3/2009, những người điều khiển trên mặt đất nhận thấy có một con dơi đang bám vào bên ngoài của thùng nhiên liệu. Khi xem xét các hình ảnh, các chuyên gia động vật hoang dã tin rằng con dơi bị gãy một cánh và đang gặp vấn đề ở vai hoặc cổ tay bên phải. Các nhân viên kiểm soát mặt đất hy vọng nó sẽ tự bay đi hoặc buông tay rơi xuống, nhưng con dơi vẫn ở nguyên vị trí cho tới khi phóng. Số phận cuối cùng của con dơi không bao giờ được xác định, nhưng về cơ bản đầy khó có khả năng là một kết thúc có hậu.
Tham khảo Gizmodo
