
Không có minh họa nào về vòng đời của một nền văn minh rõ nét hơn so với loạt tranh The Course of Empire (Hành trình của Đế chế) của Thomas Cole (1801-1848) được trưng bày tại phòng tranh của Hội Lịch sử New York. Là người sáng lập trường Hudson River và là người tiên phong vẽ tranh phong cảnh Mỹ thế kỷ XIX, Cole đã khắc họa một cách tuyệt đẹp lý thuyết về vòng đời của một nền văn minh mà nhiều người vẫn tin tưởng ngày nay.
Mỗi cảnh trong năm bức tranh tưởng tượng mô tả một cửa sông lớn chảy qua chân các vách đá. Bức thứ nhất, The Savage State (Thời Hoang Dã): cảnh cây cối rậm rạp với những người săn bắt-hái lượm, biểu hiện cho sự tồn tại nguyên thủy trước bình minh giông bão. Bức thứ hai, Arcadian or Pastoral State (Thời Trồng Trọt và Chăn Nuôi) miêu tả cảnh đồng quê: cư dân cắt tỉa cây cối, trồng trọt trên các cánh đồng và xây dựng những ngôi đền Hy Lạp thanh nhã.
Bức thứ ba, lớn nhất, là Consummation of Empire (Đỉnh Cao của Đế chế): cảnh tượng giờ đây tràn ngập những cột đá cẩm thạch nguy nga, những triết gia-nông dân trong bức tranh trước đã biến thành các thương gia mặc đồ sang trọng, các quan chức La Mã và thị dân. Đây là đỉnh điểm của vòng đời. Sau đó là bức Destruction (Hủy Diệt): thành phố trong biển lửa, cư dân chạy trốn khỏi đám tộc người xâm lược đang cướp bóc dưới bầu trời chiều u ám. Cuối cùng, mặt trăng mọc trên bức Desolation (Hoang Tàn): không còn sự sống, chỉ còn những đống gạch vụn và các cột trụ phủ đầy dây leo và hoa dại.
Được ưa chuộng từ giữa thập niên 1830, các bức tranh của Cole truyền tải một thông điệp rõ ràng: mọi nền văn minh, dù vĩ đại đến đâu, cuối cùng cũng phải suy tàn và sụp đổ. Đây là lời khuyên cho nước cộng hòa trẻ Hoa Kỳ thời bấy giờ: hãy sống giản dị, tránh xa sự cám dỗ của giao thương, chinh phục và thực dân hóa. Qua nhiều thế kỷ, các sử gia, nhà lý thuyết chính trị, nhà nhân chủng học và công chúng đều có xu hướng suy ngẫm về sự suy vong của các nền văn minh theo chu kỳ và chậm rãi.
Trong cuốn thứ sáu của bộ Những câu chuyện Lịch sử của Polybius, liên quan đến sự trỗi dậy của La Mã, quá trình tiến hóa chính trị diễn ra như sau:
1. Quân chủ
2. Vương quyền
3. Chuyên chế
4. Giới quý tộc
5. Tập đoàn đầu sỏ chính trị
6. Dân chủ
7. Chính quyền nhân dân (dân chúng làm chủ)
Ý tưởng này đã được hồi sinh vào thời Phục Hưng, khi tư tưởng của Polybius được tái hiện và thể hiện trong các tác phẩm của Machiavelli và Montesquieu. Quan điểm chu kỳ cũng xuất hiện độc lập trong các tác phẩm của nhà sử học Ả Rập thế kỷ XIV Ibn Khaldun (1332-1406) và trong học thuyết Tân-Nho giáo đời nhà Minh. Trong cuốn Scienza nuova (Khoa học mới) viết năm 1725, nhà triết học Italy Giambattista Vico (1668-1744) mô tả mọi nền văn minh đều trải qua một “đỉnh cao” với ba giai đoạn: thần thánh, anh hùng, và nhân văn hoặc lý trí – quay trở lại với thần thánh trong cái mà Vico gọi là “tình trạng man rợ của sự suy xét.” “Những chính phủ hiến định tốt nhất, giống như các cơ thể động vật hoàn hảo,” triết gia chính trị Anh Henry St. John–1st Viscount Bolingbroke (1678-1751) viết năm 1738, “mang trong mình mầm mống sự hủy hoại của chúng: dù chúng lớn lên và phát triển trong một thời gian, chúng cũng sẽ nhanh chóng tiêu tan. Mỗi giờ chúng tồn tại là một giờ rút ngắn đi tuổi thọ còn lại của chúng.” Trong The Wealth of Nations, Adam Smith diễn giải rằng sự phát triển kinh tế “cuối cùng sẽ dẫn đến tình trạng đình trệ, trì trệ.”
Gần đây, nhà nhân chủng học Jared Diamond đã thu hút sự chú ý của công chúng với một lý thuyết quan trọng về sự trỗi dậy và sụp đổ. Cuốn sách của ông, Collapse: How Societies Choose to Fail or Succeed (Sụp đổ: Các xã hội lựa chọn thất bại hay thành công như thế nào) – 2005, là một lịch sử chu kỳ cho Kỷ nguyên Xanh: câu chuyện về các xã hội – từ đảo Easter thế kỷ XVII đến Trung Hoa thế kỷ XX – đã và đang tự hủy hoại mình bằng cách lạm dụng môi trường tự nhiên. Diamond dẫn lời John Lloyd Stevens (1805-1852), nhà thám hiểm và khảo cổ học người Mỹ, người đã phát hiện ra các thành phố Maya cổ đại ở Mexico: Đây là những di tích của những người biết cày cấy, trồng trọt, những người thanh lịch và đã trải qua tất cả các giai đoạn từ trỗi dậy đến sụp đổ của các quốc gia, đạt đến thời hoàng kim và diệt vong.
Theo Diamond, người Maya đã rơi vào cái bẫy Malthus khi dân số của họ tăng trưởng vượt quá khả năng hỗ trợ của hệ thống nông nghiệp mong manh và kém hiệu quả. Nhiều người hơn đồng nghĩa với việc cần trồng trọt nhiều hơn, nhưng việc trồng trọt nhiều hơn dẫn đến phá rừng, xói mòn, hạn hán và thoái hóa đất. Kết quả là cuộc nội chiến giành giật nguồn tài nguyên nổ ra và cuối cùng, mọi thứ sụp đổ. Diamond kết luận rằng thế giới chúng ta ngày nay cũng có thể sẽ lặp lại vết xe đổ của người Maya.
Điều đáng lo ngại là quá trình tự sát môi trường là một quá trình chậm rãi và kéo dài. Không may cho chúng ta, các nhà lãnh đạo chính trị ở hầu hết các xã hội – dù sơ khai hay phức tạp – cũng đều không mấy quan tâm đến những vấn đề phải mất hàng trăm năm mới hoàn toàn lộ diện. Như Hội nghị về biến đổi khí hậu Liên Hợp Quốc ở Copenhagen tháng 12 năm 2009 đã chỉ ra: khẩu hiệu “Hãy cứu lấy Trái Đất” cho các thế hệ tương lai không được đặt lên trên những tranh cãi về phân phối kinh tế giữa các quốc gia giàu và nghèo. Chúng ta yêu thương con cháu mình, nhưng thế hệ sau có thể khó mà hiểu được điều đó...
Tôi đã bắt đầu cuốn sách này với câu hỏi của Rasselas: “Bằng cách nào mà người châu Âu mạnh như vậy? Tại sao, trong khi họ dễ dàng đến châu Á, châu Phi để buôn bán và chiếm đất, nhưng người Á, người Phi lại không thể xâm phạm bờ biển của họ, thiết lập thuộc địa và ban hành luật lệ cho các ông hoàng của họ?” Câu trả lời của Imlac là kiến thức là sức mạnh, nhưng ông cũng không biết vì sao kiến thức của châu Âu lại vượt trội hơn. Giờ đây chúng ta có thể đưa ra một câu trả lời tốt hơn. Vì sao phương Tây thống trị phần còn lại của thế giới chứ không phải ngược lại? Tôi cho rằng đó là vì phương Tây đã phát triển sáu yếu tố then chốt mà phần còn lại không có:
1. Cạnh tranh: châu Âu bị chia cắt về chính trị và trong mỗi vương quốc hay nước cộng hòa đều có nhiều thực thể cạnh tranh với nhau.
2. Cuộc Cách mạng Khoa học: tất cả các phát minh của thế kỷ XVII về toán học, thiên văn học, vật lý, hóa học và sinh học đều diễn ra ở Tây Âu.
3. Pháp trị và chính phủ đại diện: hệ thống tối ưu của trật tự xã hội và chính trị phát triển trong thế giới nói tiếng Anh, dựa trên quyền sở hữu tư nhân và quyền đại diện của người sở hữu tài sản trong cơ quan lập pháp.
4. Y học hiện đại: hầu hết các đột phá về chăm sóc y tế, kể cả kiểm soát dịch bệnh, đều do người Tây Âu và Bắc Mỹ thực hiện.
5. Xã hội tiêu dùng: cuộc Cách mạng Công nghiệp diễn ra nơi có nguồn cung cấp công nghệ và nhu cầu tiêu dùng hàng hóa lớn hơn, tốt hơn, rẻ hơn, bắt đầu từ ngành dệt may.
6. Đạo đức lao động: người phương Tây là những người đầu tiên kết hợp được lao động hiệu quả với tỉ lệ tiết kiệm cao, cho phép tích lũy tư bản bền vững.
Sáu yếu tố then chốt này là chìa khóa cho sự trỗi dậy của phương Tây. Câu chuyện của thời đại chúng ta – bắt đầu từ thời hoàng đế Minh Trị ở Nhật Bản (1867-1912) – là câu chuyện về phần còn lại của thế giới cuối cùng cũng bắt đầu áp dụng những yếu tố này. Người Nhật không biết yếu tố nào của văn hóa và thể chế phương Tây là quan trọng nhất, nên họ sao chép mọi thứ, từ trang phục, kiểu tóc đến thực hành thuộc địa hóa. Đáng tiếc, họ xây dựng đế quốc vào thời điểm chi phí của chủ nghĩa đế quốc bắt đầu vượt quá lợi ích.
Các cường quốc châu Á khác như Ấn Độ đã mất vài thập kỷ theo đuổi sai lầm rằng các thể chế xã hội chủ nghĩa do Liên Xô dẫn đầu ưu việt hơn so với các thể chế dựa trên thị trường của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, bắt đầu từ những năm 1950, một vành đai lớn các nước Đông Á đã tiếp bước Nhật Bản, học tập mô hình công nghiệp phương Tây, bắt đầu từ ngành dệt may và sắt thép, từ đó tạo ra chuỗi giá trị. Ngày nay, chúng ta có nhiều lựa chọn trong việc học hỏi các ứng dụng của phương Tây. Cạnh tranh nội bộ và chính phủ đại diện là những yếu tố ít quan trọng hơn trong sự phát triển của châu Á.
Khoa học, y học, xã hội tiêu dùng và đạo đức lao động (ít chất Tin Lành hơn so với Max Weber tưởng tượng) mới là những yếu tố quan trọng nhất. Ngày nay, Singapore được Diễn đàn Kinh tế Thế giới xếp hạng thứ 3 về khả năng cạnh tranh. Hong Kong đứng thứ 11, tiếp theo là Đài Loan (thứ 13), Hàn Quốc (thứ 22) và Trung Quốc (thứ 27). Thứ tự này cũng tương ứng với thứ tự các nước này tiến hành “Tây hóa” nền kinh tế của họ.
Ngày nay, GDP trên đầu người của Trung Quốc bằng 19% của Hoa Kỳ, so với mức 4% khi họ bắt đầu cải cách kinh tế cách đây 30 năm. Hong Kong, Nhật Bản và Singapore đã bắt đầu từ năm 1950, Đài Loan năm 1970 và Hàn Quốc năm 1975. Theo tổ chức Conference Board – tổ chức nghiên cứu kinh tế hàng đầu thế giới có trụ sở tại Hoa Kỳ – hiện nay GDP trên đầu người của Singapore cao hơn của Hoa Kỳ 21%, Hong Kong cũng xấp xỉ, Nhật Bản và Đài Loan thấp hơn 25% còn Hàn Quốc thấp hơn 36%.
Phải rất dũng cảm mới dám đánh cược rằng Trung Quốc sẽ không đi theo quỹ đạo này trong những thập kỷ tới. Cuộc cách mạng hiện tại của Trung Quốc là cuộc cách mạng công nghiệp lớn nhất và nhanh nhất. Chỉ trong vòng 26 năm, GDP của Trung Quốc đã tăng gấp mười lần. Liên hiệp Anh đã mất 70 năm từ năm 1830 để đạt mức tăng trưởng gấp 4 lần. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế, tỉ lệ của Trung Quốc trong GDP toàn cầu (tính theo giá hiện tại) sẽ vượt 10% vào năm 2013. Trước khủng hoảng tài chính, các nhà kinh tế tại Goldman Sachs đã dự đoán rằng Trung Quốc sẽ vượt Hoa Kỳ về GDP vào năm 2027. Nhưng khủng hoảng tài chính đã khiến tăng trưởng của Hoa Kỳ giảm nhiều hơn so với Trung Quốc...
Chúng ta có thể làm gì để bảo vệ phương Tây khỏi một thảm họa như vậy? Trước tiên, hãy thực tế. Những yếu tố từng giúp phương Tây vượt trội không còn là độc quyền của chúng ta nữa. Trung Quốc đã có chủ nghĩa tư bản. Iran đã phát triển khoa học. Nga đã đạt được dân chủ. Các nước châu Phi đang dần có y học hiện đại. Thổ Nhĩ Kỳ đã có xã hội tiêu dùng. Điều này có nghĩa là phương thức hoạt động của phương Tây không suy yếu mà đang lan rộng, với rất ít ngoại lệ. Ngày càng nhiều người ở phần còn lại của thế giới ăn mặc, nghỉ ngơi, tắm rửa, vui chơi, làm việc… giống người phương Tây. Văn minh phương Tây không phải là duy nhất, mà là tổng hòa của nhiều yếu tố.
Phương Tây là đa nguyên chính trị (nhiều bang và nhiều giới chức), là tự do tư tưởng và phương pháp luận khoa học, là pháp trị và quyền tư hữu, cũng như quyền dân chủ. Thậm chí ngày nay, phương Tây vẫn có các ưu thế về thể chế so với Phần còn lại. Trung Quốc không có cạnh tranh chính trị. Iran không có tự do tín ngưỡng. Nga có bầu cử nhưng cai trị bằng pháp luật còn thiếu minh bạch. Không quốc gia nào có tự do báo chí. Những khác biệt này lý giải vì sao các nước còn lại – như ba quốc gia nói trên – đều đứng sau phương Tây về tiêu chí “mở rộng đổi mới đất nước” và “năng lực đổi mới quốc gia”.
Tất nhiên, văn minh phương Tây không hoàn hảo. Mỗi quốc gia đế quốc phương Tây đều đã gây ra những tội ác lịch sử, từ sự tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc đến những điều sáo rỗng của xã hội tiêu dùng. Chủ nghĩa duy vật của phương Tây đã gây ra nhiều hậu quả nghi ngờ, không chỉ là những bất mãn mà Freud khuyên chúng ta phải chấp nhận. Chắc chắn, phương Tây đã đánh mất chủ nghĩa khổ hạnh mà Weber coi là gương mẫu trong đạo đức Tin Lành.
Nhưng cái “mớ đồ Tây” này vẫn mang lại cho xã hội loài người những thể chế chính trị, xã hội và kinh tế tuyệt vời nhất – những thứ tốt nhất để thúc đẩy khả năng sáng tạo cá nhân, giải quyết những vấn đề mà thế kỷ XXI đang đối mặt. Hơn nửa thiên niên kỷ qua, không có nền văn minh nào làm tốt hơn trong việc tìm ra và đào tạo những thiên tài ẩn mình trong cái đuôi dài của phân bố tài năng. Câu hỏi đặt ra là liệu chúng ta có còn nhận ra sự ưu việt trong cái “mớ đồ Tây” kia?
Yếu tố cốt lõi khiến một nền văn minh trở nên thực tế với cư dân của nó không chỉ là các lâu đài nguy nga hay sự hoạt động trơn tru của các thể chế. Cốt lõi của một nền văn minh là những bài học được giảng dạy trong nhà trường, được các sinh viên hiểu và nhớ mỗi khi gặp khó khăn. Văn minh Trung Quốc được xây dựng qua giảng dạy Khổng Giáo. Văn minh Hồi giáo – tôn sùng sự vâng phục – phát triển dựa trên Kinh Coran.
Nhưng đâu là những bài học từ văn minh phương Tây, có thể củng cố niềm tin vào sức mạnh gần như vô hạn của con người cá nhân tự do? Và liệu chúng ta có thể truyền đạt những bài học đó hiệu quả như thế nào khi các nhà lý luận giáo dục hiện nay ghét bỏ kiến thức máy móc và học thuộc lòng? Có thể mối nguy hiểm thực sự không phải là sự trỗi dậy của Trung Quốc, Hồi giáo hay khí thải CO2, mà là sự mất niềm tin vào nền văn minh mà chúng ta thừa hưởng từ tổ tiên.
Nền văn minh của chúng ta không chỉ là đối trọng với những trò hề sân khấu (như P.G. Wodehouse nói đùa). Churchill đã nắm bắt được điểm mấu chốt khi ông định nghĩa “Nguyên lý trung tâm của nền văn minh phương Tây” chính là “sự phục tùng của giới cai trị đối với các tập tục đã ổn định của nhân dân và ý chí của họ, như đã được thể hiện trong Hiến pháp.”
Vì sao [Churchill nêu câu hỏi] các quốc gia và dân tộc không liên kết thành một hệ thống lớn hơn và thiết lập một nền pháp trị có lợi cho tất cả? Đó chắc chắn là niềm hy vọng cao nhất truyền cảm hứng cho chúng ta… Nhưng sẽ là tự phụ khi tưởng rằng tuyên cáo các nguyên tắc đúng đắn có giá trị nào đó trừ khi chúng được nâng đỡ bằng ý thức về đạo đức công dân và lòng can đảm – luôn luôn, và bằng những công cụ và tổ chức của quyền lực và khoa học, mà cuối cùng phải nhằm bảo vệ lẽ phải và lý trí. Văn minh sẽ không kéo dài, tự do sẽ không tồn tại, hòa bình sẽ không giữ được, trừ khi đại đa số nhân loại hợp nhất để cùng nhau bảo vệ chúng, và chứng tỏ bản thân họ có sức mạnh răn đe khiến mọi thế lực man rợ và dã thú đều phải chùn tay.
Năm 1938, các thế lực man rợ và dã thú đã hoành hành, đặc biệt là ở Đức. Nhưng như chúng ta đã thấy, đó cũng chính là sản phẩm của nền văn minh phương Tây chẳng khác gì các giá trị Tự do và Chính phủ thượng tôn pháp luật mà Churchill tôn vinh. Ngày nay, cũng như sau này, mối đe dọa lớn nhất đối với văn minh phương Tây không phải từ các nền văn minh khác mà chính bởi sự nhu nhược và dốt nát về lịch sử của chúng ta.
