
| Hoa lan tại Việt Nam | |
|---|---|
| Thời điểm hóa thạch: 80–0 triệu năm trước đây TiềnЄ
Є
O
S
D
C
P
T
J
K
Pg
N
| |
Hoa lan vàng tại Củ Chi | |
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Plantae |
| (không phân hạng) | Angiospermae |
| (không phân hạng) | Monocots |
| Bộ (ordo) | Asparagales |
| Họ (familia) | Orchidaceae Juss., 1789 |
| Chi điển hình | |
| Orchis L., 1753 | |
| Phân họ | |
| |
Theo sách Phong lan Việt Nam của tác giả Trần Hợp, Việt Nam có từ 137 đến 140 chi với hơn 800 loài lan hoang dã. Hiện nay, ngoài việc mọc tự nhiên, hoa lan còn được trồng rộng rãi, đặc biệt là ở Tây Nguyên và Đà Lạt, nơi có sự phát triển mạnh mẽ trong trồng lan.
Các loài lan nổi bật tại Việt Nam
| Lan tiểu hoàng đỏ | Lan thạch hộc gia lu | Lan thanh đạm | Lan sứa ba răng | Lan sớn |
| Lan phích Việt Nam | Lan nhục sơn trà | Lan ngọc kiện khê | Lan mật khẩu giả | Lan mật khẩu bì đúp |
| Lan len nỉ | Lan lá nhẵn petelot | Lan kim tuyến sapa | Lan kim tuyến | Lan huyết nhung trung |
| Lan hoàng thảo trinh bạch | Lan hoàng thảo thơm | Lan hoàng thảo tam đảo | Lan hoàng thảo sừng dài | Lan hoàng thảo đốm tía |
| Lan hoàng thảo đốm đỏ | Lan hành hiệp | Lan dáng hương quế | Lan chiểu tixier | Lan bạch manh |
| Lan bắp ngô ráp | Dực giác lá hình máng | Cầu điệp tixier | Cầu điệp evrard | Đơn hành hai màu |
| Lan hoàng thảo vạch đỏ | Lan hành averyanov | Lan hài lông | Lan hài hồng | Lan hài đài cuộn |
| Lan dáng hương hồng | Lan ý thảo | giacac incactida |
Đà Lạt
Khi Đà Lạt được khai thác, hoa lan đã được thu hoạch từ tự nhiên. Đến những năm 1960, việc nhập giống mới đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của nghề trồng hoa lan tại đây.
Các giống lan nhập khẩu trồng tại Đà Lạt thuộc các chi như Catleya, Cymbidium, Dendrobium, Paphiopedillum, Oncidium, Odontoglossum và Vanda. Trong số đó, chi Cymbidium có số lượng giống lớn nhất với hơn 300 loại. Các giống như Bengal Bay Golden Hue, Suva Royal Velvet, Sayonara Raritan, Balkis, và Eliotte, được nhập từ những năm 1960, vẫn rất phổ biến và được trồng rộng rãi ở các vườn lan.
Chi Cymbidium



Chi Dendrobium




Chi Oncidium


Các giống lan bản địa đã được sưu tầm và trồng rộng rãi ở Đà Lạt từ thập niên 1940 đến nay.
Những loài lan phổ biến tại các vườn lan ở Đà Lạt và Tây Nguyên bao gồm:

- Long tu (Dendrobium primulinum Lindl.)
- Kim điệp (Den. Chrysotosum Lindl. var. Delacourii Gagn.)
- Thủy tiên trắng (Den. Farmeri Paxton)
- Thủy tiên vàng (Den. Thyrsiflorum Rchb. f.)
- Thủy tiên mỡ gà (Den. Densiflorum Wall)
- Long nhãn kim điệp (Den. Fimbriatum Hook, var. oculatum Hook)
- Giả hạc (Den. Superbum Reich. in Walp)
- Ý thảo (Den. gratiotissimum Rchb. f.)
- Các loại Lọng (Bulbophyllum sp.)
- Tuyết ngọc (Coelogyne psectrantha Gagn.)
- Hàm lân (Coelogyne Lawrenceana Rofle)
- Mỹ dung dạ hương (Vanda denisoniana Bens et Rchb. f.)
- Tóc tiên (Vanda Watsonii Rolfe)
- Cẩm báo (Vandopsis parishii (Veitsch) Reichb. f.)
- Huyết nhung (Renanthera Imschootiana Rolfe)
- Bò cạp (Renanthera Evrardii Guillaum)
- Hồ điệp (Phalaenopsis manii Reichb. f.)
- Vân hài (Paphiopedilum callosum Kerchove)
- Kim hài (Paphiopedilum villosum (Lindl.) Pfitz.)
- Hồng dâu (Aerides lawrenceana)
- Hạc đỉnh (Phajus tankervilleae (Ait.) Bl.)
Các loài lan tự nhiên ở Tây Nguyên

(Dendrobium primulinum)

(Den. palpebrae)

(Ascocentrum miniatum)







Lan rừng tại Yên Bái
Yên Bái, với khí hậu ôn hòa và nhiều mưa, là một vùng núi lý tưởng cho sự phát triển của thực vật và đặc biệt là phong lan. Các cánh rừng ở đây phong phú với nhiều loại lan quý hiếm như: Hoàng Thảo, Thanh đạm, Hạc đính, Giáng hương, Phượng vĩ, Cẩm báo, Vân đa, Hài gấm, Thạch hộc,...
- Chi lan Hoàng thảo nổi bật với sự đa dạng về số lượng và màu sắc hoa như: Hoàng thảo bạch nhạn, long nhãn, tím huế, tím hồng, vảy rồng, mắt trúc... Thường thấy ở Trạm Tấu, Văn Chấn, Lục Yên, Yên Bình... Chi lan này có sức sống bền bỉ và mùa hoa kéo dài gần như quanh năm.
- Chi lan Thanh đạm với hàng chục loài như Ba gân, Tam Bảo, Thanh đạm vàng... phổ biến ở Trạm Tấu, Văn Chấn, Yên Bình... Chi lan này không chỉ đẹp từ thân lá đến hoa mà đặc biệt là lan Thanh đạm tam bảo với sắc tím hồng và vàng lôi cuốn.
- Chi lan Thanh hộc, còn gọi là cẳng gà hoặc Kim thoa thạch hộc, cho hoa với màu hồng, tím, trắng hài hòa nở vào mùa xuân. Nó còn được sử dụng như một vị thuốc quý theo kinh nghiệm dân gian. Đây là loại lan khó trồng khi tách khỏi cây xanh.
- Chi lan Giáng hương, đặc biệt phổ biến ở Mù Cang Chải, bao gồm các loài như Giáng hương quý, hồng nhạn, Giáng hương nhiều hoa. Đây là niềm tự hào của lan Việt Nam với vẻ đẹp toàn diện và chùm hoa sang trọng cùng hương thơm nhẹ nhàng.
- Chi lan Ngọc điểm, thường gặp ở Mù Cang Chải, gồm ba loài chính: đuôi cáo, hải âu, đai châu, trong đó Ngọc điểm đuôi cáo là phổ biến nhất.
Thông tin bổ sung
- Các loài lan mới được phát hiện tại Việt Nam
Những loài lan này được phát hiện trong năm 2005-2006 tại tỉnh Thừa Thiên Huế, khu vực Hành Lang Xanh. Trong đó có 5 loài phong lan và 3 loài thực vật khác. Cố vấn trưởng dự án Hành Lang Xanh của WWF Greater Mekong tại Việt Nam đã chia sẻ: 'Chỉ có thể phát hiện nhiều loài mới như thế này ở những khu vực đặc biệt.'
Ba trong số năm loài lan mới được phát hiện không có lá, một đặc điểm rất hiếm gặp ngay cả trong thế giới phong lan. Những loài này không chứa diệp lục và sống nhờ vào chất hữu cơ mục nát, tương tự như nhiều loài nấm.
Ảnh chụp hoa phong lan
















Ghi chú
Liên kết ngoài
- Danh sách 423 loài phong lan thuộc họ Orchidaceae trên SVRVN
