Năm 2020 ghi dấu một trang sử đặc biệt trong ngành hàng không, khi mọi hoạt động tạm ngừng, các máy bay đứng yên trên mặt đất và điều đó dẫn đến sự phá sản của nhiều hãng hàng không trên thế giới do đại dịch COVID-19. Tuy nhiên, lịch sử của ngành hàng không cũng đánh dấu nhiều cột mốc quan trọng đã định hình ngành này như chúng ta biết ngày nay.Benoist Type XIV và chuyến bay thương mại đầu tiên theo lịch trình trên thế giới
Vào ngày 1 tháng 1 năm 1914, diễn ra chuyến bay thương mại đầu tiên theo lịch trình trên toàn cầu. Phi công Antony Habersack Jannus đã lái chiếc Benoist Type XIV của hãng hàng không St. Petersburg - Tampa Airboat Line (SPT Airboat Line) để đưa thị trưởng của thành phố Abraham C. Pheil từ St. Petersburg đến Tampa, Florida. Hơn 3000 người đã chứng kiến sự kiện lịch sử này và từ đây cũng khởi nguồn cho nhiều quy định như yêu cầu giấy phép hành nghề cho phi công máy bay thương mại. Jannus cũng trở thành phi công đầu tiên được cấp giấy phép hành nghề liên bang.Hãng hàng không St. Petersburg - Tampa Airboat Line được thành lập bởi doanh nhân Percival E. Fansler và theo thỏa thuận với thành phố St. Petersburg, hãng duy trì lịch trình 2 chuyến mỗi ngày, 6 ngày mỗi tuần trong suốt 3 tháng. Giá vé là 5 đô la Mỹ.
Từ trái sang phải: Nhà sáng lập hãng hàng không SPT Airboat Line - Percival E. Fansler, thị trưởng thành phố St. Petersburg - Abraham C. Pheil và phi công Antony H. Jannus. Ảnh: Bảo tàng Không gian và Không khí Quốc gia Smithsonian.Phương tiện vận chuyển là chiếc Benoist Type XIV - một chiếc thủy phi cơ với thiết kế cánh 2 tầng được chế tạo bởi Benoist Aircraft Company - một trong những công ty sản xuất máy bay đầu tiên của Mỹ, thành lập năm 1912 bởi Thomas W. Benoist.

Chiếc máy bay trông rất độc đáo khi phần thân như chiếc xuồng nhỏ dài chỉ 7,9 m trong khi chiều rộng sải cánh đến 13,4 m. Trọng lượng không tải của nó là 567 kg và nó chỉ chở được 1 người ngồi bên cạnh phi công. Chiếc máy bay được trang bị động cơ 2 thì 6 xy lanh thẳng hàng, làm mát bằng nước có tên Model 6-X được sản xuất bởi Roberts Motor Company. Động cơ này cho công suất 66 mã lực ở vòng tua 1000 rpm và 75 mã lực ở vòng tua 1225 rpm. Một chiếc cánh quạt bằng gỗ đường kính 3 m được gắn vào động cơ để tạo lực đẩy và nguyên khối động cơ này đã nặng 125 kg.
The Lark of Duluth đã được phục hồi. Xem ảnh tại: Jemery D. Dando @JetphotosSt. Petersburg - Tampa Airboat Line sở hữu 2 chiếc Benoist Type XIV, được gọi là Lark of Duluth và Florida. Trong 3 tháng hoạt động, chúng vận chuyển 1205 hành khách và bay được 17700 km. Sau khi không còn sinh lời, hoạt động của 2 chiếc máy bay đã dừng lại, Lark of Duluth sau đó được sử dụng để vận chuyển hành khách giữa các thành phố ở Mỹ.
Benoist trên một trong những chiếc máy bay đầu tiên mà ông thiết kế. Xem ảnh tại: Daily Journal
Một điều đáng tiếc là Thomas W. Benoist, cha đẻ của chiếc máy bay, đã qua đời trong một vụ tai nạn xe kéo tại Sandusky, Ohio vào ngày 14 tháng 6 năm 1917. Dù chỉ hoạt động trong lĩnh vực hàng không trong vòng 10 năm, nhưng Benoist đã để lại nhiều dấu ấn đáng kể - từ việc thành lập công ty phân phối phụ tùng máy bay đầu tiên trên thế giới, đến việc sáng lập một trong những công ty sản xuất máy bay đầu tiên ở Mỹ và một trường dạy bay rất thành công (Thomas Benoist cũng là một phi công), cũng như việc điều hành một trong những hãng hàng không thương mại đầu tiên trên thế giới.
Douglas DC-3 - huyền thoại không gian hàng không và dòng máy bay vẫn tồn tại đến ngày nay
Trong các bộ phim cổ điển như The Invaders, Casino Royale (1967), cho đến những bộ phim gần đây như Quantum of Solace (2008), series Man vs. Wild và mới nhất là HEX, khán giả thường thấy chiếc máy bay Douglas DC-3, một trong những máy bay được sản xuất từ những năm 30 của thế kỷ trước bởi Douglas. DC-3 đã trở thành trụ cột của nhiều hãng hàng không và cách mạng hóa ngành hàng không thương mại, khiến việc sử dụng máy bay trở nên phổ biến hơn. Máy bay này được phát triển và sản xuất bởi Douglas Aircraft Company - một trong những công ty hàng không hàng đầu của Mỹ, được thành lập vào năm 1921 bởi Donald Wills Douglas Sr. Sau đó, vào năm 1967, Douglas sáp nhập với McDonnell Aircraft Company để tạo ra McDonnell Douglas, và cuối cùng, vào năm 1997, họ tiếp tục sáp nhập với Boeing.
Hai chiếc máy bay DC-3 và hai chiếc DC-3B đậu trong hangar của TWA tại sân bay Kansas City Municipal, nay là sân bay Charles B. Wheeler Downtown, ở tiểu bang Missouri. Ảnh: The Pendergast Years.
Chiếc máy bay DC-3 được xem là một thành tựu đỉnh cao của Douglas, với sự hợp tác của nhiều hãng hàng không. Ban đầu, đây là một đề xuất từ TWA (Transcontinental & Western Air, sau đổi tên thành Trans World Airlines), một trong những hãng hàng không lớn nhất của Mỹ hoạt động từ năm 1930 đến 2001. Trong khi đối thủ của TWA - United Airlines - đã sử dụng dòng máy bay Boeing 247, TWA cần một phương tiện để cạnh tranh. Douglas đã phát triển dòng máy bay DC-1 vào năm 1933, tiếp theo là DC-2 vào năm 1934 - đều là những dòng máy bay rất thành công, nhưng vẫn cần sự cải tiến.
Ảnh: Flying Tigers
Mọi thứ chỉ bắt đầu khi giám đốc điều hành của American Airlines, Cyrus Rowlett Smith, nhấc điện thoại gọi cho Donald Douglas, cố vấn ông về việc phát triển một loại máy bay có giường ngủ dựa trên DC-2 để thay thế cho chiếc Curtiss Condor II. Khi ông đặt mua 20 chiếc, Douglas mới bắt đầu công việc phát triển. Chiếc DC-3 ra đời sau 2 năm, phiên bản nguyên mẫu đầu tiên có tên DST (Douglas Sleeper Transport) và cất cánh lần đầu vào ngày 17 tháng 12 năm 1935 tại Sân bay Clover Field, Santa Monica, California.Chiếc DC-3 có thiết kế thân liền khối, cánh đặt thấp, càng hạ cánh thông thường (không thu gọn vào thân), sử dụng 2 động cơ piston với công suất từ 1000 đến 1200 mã lực. Tốc độ bay hành trình của nó là 333 km/h, có thể chở tối đa 32 hành khách hoặc 2,7 tấn hàng, và tầm bay lên đến 2400 km. Đặc biệt, DC-3 có thể hoạt động trên hầu hết các sân bay ở Mỹ lúc đó, chỉ cần đường băng ngắn và có thể hạ cánh trên mặt cỏ, đường đất, thậm chí là tuyết.
Hành khách trên chiếc DC-3 của United Airlines trong thập kỷ 40. Ảnh: Smithsonian National Air and Space Museum.
DC-3 được ra đời trong hoàn cảnh khi việc đi lại bằng đường hàng không vào những năm 1930 vẫn là điều xa xỉ, chỉ dành cho giới doanh nhân. Chính phủ Hoa Kỳ đã hỗ trợ ngành hàng không thông qua việc trợ giá và hợp đồng vận chuyển thư từ, nhưng đến khi DC-3 được các hãng hàng không lớn của Mỹ sử dụng, nó mới thực sự chứng minh được lợi nhuận của mình chỉ từ việc vận chuyển hành khách, mà không cần phải dựa vào trợ giá từ chính phủ.

Cabin của DC-3 được coi là rộng rãi và thoải mái nhất so với các máy bay cùng thời. Ảnh: Smithsonian National Air and Space Museum.
Khi ra mắt lần đầu với American Airlines vào ngày 26 tháng 6 năm 1936, DC-3 đã chứng minh được sức mạnh vượt trội so với các máy bay thương mại cùng thời. Không chỉ các hãng hàng không Mỹ, DC-3 còn được các hãng hàng không châu Âu như KLM, Swissair, Air France, BOAC ... khai thác. Cabin rộng hơn 60 cm so với DC-2, cho phép gắn nhiều ghế hơn, mang lại sự thoải mái cho hành khách trong các chuyến bay dài. Thêm vào đó là tầm bay lớn và tốc độ hành trình cao, DC-3 có thể dễ dàng bay xuyên lục địa Mỹ từ New York đến Los Angeles trong 18 tiếng với 3 điểm dừng, hoặc từ bờ tây sang đông trong 15 tiếng cũng với 3 điểm dừng (nếu hưởng lợi từ gió thuận).Khi Chiến tranh Thế giới thứ Hai bùng nổ, Douglas cũng đã sản xuất các phiên bản quân sự của DC-3 như C-47 Skytrain và C-53 Skytrooper với số lượng lên đến hơn 10.000 chiếc, vượt xa con số hơn 600 chiếc DC-3 phiên bản dân dụng được sản xuất. Các máy bay C-47 và C-53 này đã tham gia tích cực vào cuộc đổ bộ lịch sử D-Day.

C-47 Skytrain bay cùng với C-130J Super Hercules thuộc Phi đội không vận số 37 của Đức. Ảnh: AF.MIL
Sau Chiến tranh, DC-3 trở nên phổ biến bởi nhiều máy bay C-47 đã qua sử dụng được chuyển đổi thành máy bay chở khách và hàng hóa. DC-3 cũng đã được sản xuất bởi nhiều công ty khác trong thời kỳ chiến tranh thông qua giấy phép nhượng quyền, với các biến thể như Lisunov Li-2 của Xô Viết, C-47 Dakota của Anh, Showa/Nakajima L2D của Nhật... Tính tổng các biến thể của DC-3 trên toàn thế giới, số lượng máy bay sản xuất lên tới hơn 16.000 chiếc.

Chiếc DC-3 đã trải qua biến đổi kỳ diệu trở thành phiên bản Basler BT-67 của hãng hàng không Kenn Borek Air. Hình ảnh: LimaFox @Jetphotos
Đến ngày nay, DC-3 vẫn tiếp tục phục vụ trong lĩnh vực hàng không thương mại và quân sự cho đến giữa năm 2018. Với hơn 80 năm lịch sử, chiếc máy bay bền bỉ này vẫn thực hiện xuất sắc nhiệm vụ vận chuyển hành khách và hàng hóa cho các hãng hàng không nhỏ cũng như trong các hoạt động như phun thuốc trừ sâu, nhảy dù và tham quan cảnh đẹp... Cho đến năm 2020, nhiều chiếc DC-3 đã được nâng cấp lên thành phiên bản Basler BT-67 để sử dụng trong việc vận chuyển.
Có một câu nói phổ biến trong cộng đồng những người yêu hàng không và phi công rằng: 'Chỉ có thể thay thế một chiếc DC-3 bằng một chiếc DC-3 khác'.
Nguồn: This Day in Aviation; Wikipedia [1]; [2]; Simple Flying
