
BỆNH ĐIẾC
“Khủng hoảng” và “chiến thắng nghịch cảnh” là những cụm từ thường được sử dụng nhất để miêu tả cuộc sống và sự phát triển của Beethoven trong giai đoạn 1798–1802. Nghịch cảnh bắt đầu xuất hiện từ năm 1797 khi Beethoven bắt đầu có những dấu hiệu đầu tiên của bệnh điếc và rồi ngày càng kinh hoàng nhận ra rằng việc mất khả năng nghe không chỉ là tạm thời mà đang trở thành một tình trạng mãn tính. Tuy nhiên, trong năm năm này, số lượng sáng tác của Beethoven đã tăng lên đáng kể khi ông cố gắng củng cố vị thế của mình như một nhà soạn nhạc trẻ hàng đầu về khí nhạc.
Beethoven phát triển và đào sâu khả năng của mình để khám phá những cách tiếp cận mới với các thể loại ông đã thành thạo, đồng thời mở rộng tầm ảnh hưởng của mình để thách thức truyền thống trong hai lĩnh vực ông chưa hoàn toàn tinh thông – giao hưởng và tứ tấu dây. Khả năng nuôi dưỡng tinh thần sáng tạo và bảo vệ nó khỏi nỗi đau thể xác và tâm lý của bệnh điếc ngày càng trầm trọng là một trong những đặc điểm nổi bật của cuộc đời Beethoven.
Những câu chuyện tương tự có lẽ đã xảy ra với ít nhất một vài nghệ sĩ khác, những người từ thời trẻ đã phải chịu các căn bệnh thể xác và tâm lý nghiêm trọng và vượt qua chúng để đạt được những năm tháng phát triển rực rỡ. Chúng ta có thể so sánh Beethoven với Francisco Goya, hơn Beethoven hai mươi bốn tuổi. Năm 1792–1793, ở tuổi bốn mươi sáu, Goya trở nên điếc vĩnh viễn sau một căn bệnh đe dọa tính mạng. Về sau, ông phải chịu những cơn bệnh tật và trầm cảm nhưng vẫn kiên nhẫn chống chọi bằng nghệ thuật và sức sáng tạo của mình.
Đối với Beethoven, cũng như với Goya, việc không ngừng theo đuổi nghệ thuật có chức năng chữa lành: sự tập trung mãnh liệt vào các nhiệm vụ nghệ thuật khó khăn nhất đã tăng cường khả năng của người nghệ sĩ trong việc duy trì sự nghiệp ở tốc độ cao nhất. Chúng ta sẽ chẳng bao giờ tìm ra một lời giải thích đơn giản cho cội gốc tinh thần làm nên sức mạnh ở Beethoven cũng như lý giải nổi việc ông vượt qua bệnh tật, đặc biệt là bệnh điếc, nhưng không nghiên cứu nào về cuộc đời và tác phẩm của ông có thể né tránh vấn đề này.
Mặc dù ít nhất một nhà viết tiểu sử thời kỳ đầu đã cho rằng bệnh điếc của ông khởi phát từ một căn bệnh nghiêm trọng mà ông có vẻ đã mắc vào mùa hè năm 1796, nhưng không có bằng chứng chứng thực rằng căn bệnh này là nguyên nhân trực tiếp. Những triệu chứng đầu tiên của việc mất thính lực có lẽ xuất hiện vào năm 1798, bởi Beethoven đã viết cho người bạn cũ của mình là Wegeler vào ngày 29 tháng 6 năm 1801, rằng “trong ba năm qua, thính giác của tôi ngày càng suy yếu”. Việc ông nói về những tiếng vo ve và ong ong trong tai khiến ta nghĩ đến sự xuất hiện của chứng ù tai.
Lá thư này cũng chứa đựng các nhận định tiết lộ nhiều điều khác. Ông than phiền với Wegeler về các bác sĩ của mình ở Vienna, một trong số họ đã cố gắng “tăng cường thể lực của tôi bằng cách tăng thêm thuốc và tăng cường thính giác của tôi bằng dầu hạnh nhân, nhưng nó đã khiến tôi khốn khổ vô cùng!” Và ông than phiền về “một tay lang băm khác đã khuyên tôi tắm nước lạnh”. Khi kể lại những dấu hiệu mất thính lực và những rối loạn đường ruột (mà một số bác sĩ nghĩ là có liên quan theo một cách nào đó), khi thổ lộ tất cả với Wegeler, cũng là một bác sĩ, Beethoven rất cần sự cảm thông.
Tôi phải thú nhận rằng mình đang sống khổ sở. Từ gần hai năm nay, tôi đã thôi tham dự mọi giao tiếp xã hội chỉ vì tôi thấy không thể trò chuyện với mọi người: tôi bị điếc. Nếu làm nghề nào khác thì tôi còn có thể đối phó với tình trạng ốm yếu của mình, nhưng trong nghề của tôi thì đó là một trở ngại khủng khiếp. Và nếu các đối thủ của tôi, mà tôi lại có khá nhiều, biết chuyện này thì họ sẽ nói sao đây?
Trong nhà hát, ông phải ngồi gần mới nghe thấy diễn viên nói gì, và “khi tôi dự buổi hòa nhạc, tôi không thể nghe thấy nốt cao của nhạc cụ hay giọng hát”. Tai ông “vẫn vo vo cả ngày lẫn đêm”. Dù hiểu lời dễ hơn, nhưng nếu ai nói nhỏ nhẹ thì ông không thể hiểu nổi. Cuối thư, gửi kèm chân dung của mình, ông xin lỗi Wegeler vì sự im lặng trước đó và nói rằng “việc viết thư chưa bao giờ là điểm mạnh của tôi”. “Ngay cả bạn thân nhất của tôi cũng không nhận được thư trong nhiều năm”. Bệnh điếc và sự cô độc dần trở thành những yếu tố đặc trưng của cuộc đời Beethoven.
Ở đầu thư gửi Wegeler, Beethoven tự hào về năng suất sáng tác của mình. Ông nói nếu họ gặp lại nhau (gần chín năm sau khi ông rời Bonn), “anh sẽ thấy tôi đã trở thành một người bạn rất giỏi, không chỉ trong vai trò nghệ sĩ mà còn là con người tốt và phát triển toàn diện hơn”. Gần cuối thư, Beethoven muốn gửi Wegeler “tất cả tác phẩm của tôi, mà tôi phải thừa nhận, giờ đã lên con số khá lớn, số lượng tăng lên hàng ngày”. Có vẻ như Beethoven đang đấu tranh để cân bằng sức mạnh và điểm yếu, để kết nối hồi ức về mình thời ấu thơ tại Bonn với nhận thức về mình khi là nghệ sĩ trẻ đang thăng hoa.
Trong khi đó, viễn cảnh khổ sở khi thấy mình dần mất liên lạc với thế giới xung quanh thúc đẩy Beethoven tập trung mạnh mẽ hơn và sáng tác dồi dào hơn bao giờ hết. Nhận thức từ lâu rằng mình có xu hướng tự xa lánh và chìm đắm trong mộng tưởng, tập trung tuyệt đối vào tác phẩm, Beethoven đề nghị Wegeler nói với Helene von Breuning rằng: “Thỉnh thoảng tôi vẫn có cơn raptus [trạng thái xuất thần]”. Beethoven kể ông mơ ước đem tiền từ âm nhạc “cho người nghèo”; rằng Lichnowsky đã chu cấp cho ông khoản niên kim; và rằng ông đang kiếm được khá nhiều tiền từ các sáng tác, với mỗi tác phẩm ông có thể tìm được sáu hoặc bảy nhà xuất bản, những người sẽ trả số tiền ông yêu cầu.
Tôi chìm đắm trong âm nhạc của mình; và khi vừa hoàn thành một tác phẩm là tôi đã bắt tay vào tác phẩm khác. Theo tốc độ sáng tác hiện tại của tôi, tôi thường viết ba hoặc bốn tác phẩm cùng lúc.
Rõ ràng tuyên bố này không hề cường điệu vì có bảy cuốn phác thảo chính mà Beethoven sử dụng trong khoảng thời gian từ giữa năm 1798 đến 1802, trong đó ông gần như đã viết một trong những tứ tấu dây Opus 18, các sonata piano từ Opus 26 đến Opus 31, các sonata violin Op. 23, 24 và 30, vở ballet Prometheus, Giao hưởng số 2, và hai bộ biến tấu piano Opus 34 và Opus 35. Việc làn sóng năng lượng sáng tạo này trùng với nỗi lo sâu sắc hơn về bệnh điếc là một trong những mấu chốt trong thời kỳ trưởng thành đầu tiên của Beethoven. Dù bệnh điếc hay nỗi sợ bệnh tật tạo nên tác động, sự miệt mài bền bỉ với công việc sáng tạo của Beethoven cho thấy nội lực ý chí mà ông có thể tập trung để vượt qua mối đe dọa khả năng nghe nhạc, tiếp tục sự nghiệp biểu diễn và duy trì các mối quan hệ bình thường với mọi người xung quanh.
Ba ngày sau khi gửi thư cho Wegeler, Beethoven lại viết một lá thư đầy đau xót khác cho người bạn thân, nghệ sĩ violin Karl Amenda, khi ấy đang ở Courland, Latvia. Trong thư, ông không chỉ tiết lộ về bệnh điếc mà còn chua xót nhắc về những “người bạn thực sự” như Amenda và những người bạn “Vienna” như Zmeskall và Schuppanzigh, những người mà ông xem như chỉ là công cụ để chơi nhạc khi cần.
Trong thư, Beethoven hiện lên như một chàng Hamlet - một hoàng tử trẻ, kiêu hãnh, đa nghi, đăm chiêu, đầy lo lắng, đang đối mặt với sự lựa chọn giữa cái chết hoặc tiếp tục sống để vượt qua khó khăn. Như Job, ông cảm thấy mình bị Đấng sáng tạo nguyền rủa, đặt tạo vật của Người vào những hiểm họa nhỏ nhặt nhất, khiến những đóa hoa đẹp nhất bị nghiền nát. Ông kể với Amenda về bệnh điếc ngày càng nặng và nỗi khổ của cuộc sống hiện tại, cảm thấy mình bị tách rời khỏi mọi thứ thân thiết và quý giá. Dù biết ơn Lichnowsky vì hỗ trợ tài chính, ông vẫn tự hào về danh tiếng và năng suất sáng tác ngày càng tăng – “mọi tác phẩm tôi viết giờ đều có thể bán ngay lập tức và được trả giá cao”.
Nhưng Beethoven lại trở lại với nỗi lo sợ rằng bệnh điếc, sự cô độc và bệnh tật sẽ làm tê liệt công việc của mình:
[T]rong tình trạng hiện tại của tôi, tôi phải tránh xa mọi thứ và những năm tháng tươi đẹp nhất của tôi sẽ nhanh chóng trôi qua mà không thể đạt được tất cả những gì tài năng và sức mạnh của tôi đã ra lệnh cho tôi thực hiện – đó là sự nhẫn nhục đáng buồn mà tôi buộc phải giấu kín. Không cần nói ra, tôi đã quyết tâm vượt qua tất cả những điều này, nhưng làm thế nào để thực hiện được đây?
Tuy nhiên, ông cũng nói rằng “khi tôi đang chơi nhạc và sáng tác, nỗi buồn phiền thường ít cản trở tôi; nhưng nó trỗi dậy mạnh nhất khi tôi ở cùng mọi người”. Ông thậm chí còn tuyên bố rằng “lối chơi piano của tôi... đã được cải thiện đáng kể” và, trong trạng thái dễ bị tổn thương về cảm xúc, ông bày tỏ rằng, nếu bệnh điếc của ông không thể chữa khỏi, thì Amenda có thể trở thành bạn đồng hành trong các chuyến lưu diễn hòa nhạc của ông. Làm như vậy “có lẽ cũng sẽ giúp anh phát tài; và sau đó anh sẽ ở bên tôi mãi mãi”.

