Bao giờ bạn đã tưởng tượng thế giới nếu các loài vật trên mặt đất không dùng chân mà di chuyển bằng mũi? Đó là sự thật về loài Nosewalkers - chúng có chân nhưng lại sử dụng mũi để di chuyển, tạo nên hình ảnh kỳ lạ nhưng hoàn toàn có thật.
Trước khi nhìn thấy, bạn có thể nghĩ đó là điều kì lạ, nhưng thực tế lại càng kỳ quặc hơn những gì bạn tưởng.
Trên trái đất của chúng ta, từng tồn tại một loài sinh vật không sử dụng bốn chân để di chuyển mà lại dùng mũi để đỡ cơ thể và di chuyển, mặc dù chúng có chân.
Hơn nữa, mũi của chúng rất linh hoạt và có thể được sử dụng trong chiến đấu, săn mồi và thậm chí trong việc tán tỉnh trong mùa giao phối... Tuy nhiên, loài động vật bí ẩn này chỉ tồn tại trên một hòn đảo thuộc Thái Bình Dương, nhưng đáng tiếc, quần đảo này đã bị chìm xuống sau vụ thử hạt nhân của Mỹ.

Và tất nhiên, sự bí ẩn của loài động vật này chắc chắn sẽ tiếp tục làm nên những nghiên cứu không ngừng của các nhà khoa học trên khắp thế giới. Thật đáng tiếc, hiện nay các ghi chú về chúng trên toàn thế giới đã biến mất, chỉ còn lại một cuốn sách ghi chép về các loài động vật di chuyển bằng mũi, kèm theo hình ảnh vẽ tay từng loài. Tác giả của cuốn sách này là Harald Staple, người được biết đến là người khám phá ra những sinh vật kì bí này.
Staple là một nhà thám hiểm người Thụy Điển. Năm 1941, trong thời kỳ chiến tranh thế giới II đang diễn ra, ông bị bắt giữ bởi quân đội Nhật trong một trại tập trung.
Tuy nhiên, may mắn thay, Staple đã có cơ hội trốn thoát, nhưng lại bị đắm tàu khi đang trên đường chạy trốn và cuối cùng bị dạt vào thiên đường của những loài động vật di chuyển bằng mũi - Hiddudify, thuộc quần đảo Hi-iay ở Nam Thái Bình Dương.

Khi bước chân lên hòn đảo, ông đã bất ngờ khi chứng kiến hành vi kỳ lạ của những loài vật tại đó, ông không ngờ rằng trên Trái Đất lại tồn tại các loài động vật có thể sử dụng mũi để di chuyển.
Ngoài ra, ông cũng phát hiện ra một loại cây độc đáo đặc hữu, cùng với những loài côn trùng nguyên thủy như gián, chuồn chuồn sáu cánh và nhiều loài khác.
Quần đảo rực rỡ màu sắc này đã khiến Staple trải qua hàng loạt bất ngờ.
Sau khi trở về, Staple đã kể lại trải nghiệm tuyệt vời của mình trên hòn đảo cho mọi người và gây sốt trong cộng đồng khoa học.
Vì vậy, các nhà khoa học từ khắp nơi trên thế giới đã đến Quần đảo Hi-iay để nghiên cứu trực tiếp các loài vật ở đó.

Khi tiếp cận với hòn đảo, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng các loài động vật dùng mũi để di chuyển ở đây là những loài có vú nhanh nhẹn và hoạt bát. Thời kỳ mang thai của chúng kéo dài từ 7 đến 12 tháng và khả năng sinh sản của chúng không mạnh và thường xuyên như các loài khác trên thế giới. Tuy nhiên, vì sống trên một hòn đảo ít kẻ thù, nên khả năng sống sót của chúng rất cao.
Đối với Nosewalkers, mũi của chúng đã vượt qua khái niệm là cơ quan hình thái tồn tại; với chúng, mũi giống như một cơ quan chức năng.
Mũi của các loài động vật khác chỉ là cơ quan hô hấp và khứu giác, trong khi mũi của Nosewalkers đã thay thế chân tay và được sử dụng nhiều hơn. Vì vậy, các nhà động vật học đặc biệt đặt tên cho nó là 'Động vật đi bằng mũi' (Nosewalker) để phân biệt với khái niệm mũi thông thường.
Khoang mũi của Nosewalker chiếm phần lớn chiều dài cơ thể. Ngoài việc duy trì chức năng thở qua lỗ mũi, nó còn có các nhiệm vụ khó khăn hơn như di chuyển, đào hang và săn mồi.

Để có thể tự do di chuyển, khoang mũi của loài này được trang bị thêm các xương và khớp chắc chắn khiến cho mũi của chúng phát triển giống như chân của các loài động vật khác.
Các cơ quan mũi của Nosewalker mạnh đến mức chúng có thể làm hầu hết mọi thứ, do đó, hầu hết các cấu trúc cơ thể của chúng đều bị suy giảm một cách mạnh mẽ.
Tay chân của chúng không còn chức năng vận động nữa. Chân trước của Nosewalker trở thành phần phụ và hỗ trợ cho các cử động kẹp chặt, trong khi chân sau của chúng đã bị teo nhỏ hoặc biến mất hoàn toàn. Ngay cả hệ tiêu hóa của chúng cũng bị thoái hóa và biến đổi thành một ống đơn giản.
Sự thiếu mạch máu, hậu môn và cột sống của một số loài đã dẫn đến một cuộc tranh cãi. Một số người đã đặt câu hỏi rằng Nosewalker không nên được coi là động vật có xương sống, chúng có cấu trúc giống với loài giun nhiều hơn là loài thú khác.
Sự suy giảm của các cơ quan khác đã thúc đẩy sự phát triển của các cơ quan mũi của Nosewalker trở nên mạnh mẽ hơn.

Khi đặt chân đến quần đảo này, các nhà khoa học đã bất ngờ khi phát hiện ra rằng chúng có một quần thể vô cùng phong phú với 14 họ và 189 loài. Trên 18 hòn đảo của quần đảo này, cũng đã được phát hiện nhiều loài động vật khác có mũi kỳ lạ.
Tổ tiên của chúng rất có thể là một số động vật ăn côn trùng, trong hoàn cảnh địa lý đặc thù, loài động vật đi bằng mũi này có cấu tạo mũi đặc biệt, có loài chỉ có 1 mũi, có loài có đến 4 mũi hoặc nhiều hơn.
Mũi của chúng có hình dạng vạn trạng, từ cây cột đến kèn đồng và ốc sên. Mũi của chúng có nhiều công dụng, không chỉ dùng để di chuyển mà còn để bắt sâu, nhảy lên và chống đỡ thân thể.

Loài Nosewalker to lớn nhất là Snouters, có chiều dài hơn 1,7 m. Chúng có bốn mũi mạnh mẽ được dùng để di chuyển.
Chúng có một cái đuôi dài và linh hoạt, kèm theo đó là một tuyến tiết ra nọc độc. Thường treo đuôi lên và sử dụng nọc độc để bắt con mồi.

Một loài Nosewalker bay duy nhất là Otoplex, có hai tai rất lớn giống như 'đôi cánh' và có khả năng bay.
Chúng bật đứng hai tai lớn dọc theo cơ thể, sau đó sử dụng các khớp trên mũi để nhảy lên cao. Khi đạt đến đỉnh cao, chúng mở rộng tai một cách tự nhiên và đập liên tục với tốc độ 10 nhịp mỗi giây để duy trì trạng thái bay trên không trong một khoảng thời gian ngắn.

Nhưng đáng tiếc, chỉ 16 năm sau khi Harald Staplep phát hiện ra những loài động vật kỳ bí này, chúng đã tuyệt chủng.
Năm 1957, tại Nam Thái Bình Dương, Hoa Kỳ đã thực hiện một cuộc thử nghiệm hạt nhân bí mật với khoảng cách khoảng 120 km gần quần đảo. Vụ nổ nguyên tử đã khiến toàn bộ quần đảo Hi-iay chìm xuống đáy biển.
Các Nosewalkers sống trong một khu vực hơn 1.000 mét vuông trên Quần đảo Hi-iay và đã bị tuyệt chủng sau đó.
Cùng năm đó, Staple đã xuất bản một cuốn sách ghi lại tất cả những gì ông biết về 189 loài Nosewalker. Đáng ngạc nhiên là sau khi các Nosewalkers tuyệt chủng, các tài liệu nghiên cứu khác ngoài cuốn sách này cũng bị mất không rõ nguyên nhân.


