
Nước thải là nước được thải ra sau khi đã sử dụng, hoặc được tạo ra trong một quá trình công nghệ và không còn có giá trị trực tiếp đối với quá trình đó nữa. Nước thải có thể có nguồn gốc từ hoạt động của các hộ gia đình, công nghiệp, thương mại, nông nghiệp, nước chảy tràn bề mặt, nước mưa bão, dòng vào cống ngầm hoặc nước thấm qua.
Nước thải đô thị thường được chuyển tải kết hợp trong một hệ thống thoát nước hoặc cống rãnh vệ sinh và được xử lý tại nhà máy xử lý nước thải. Nước thải được xử lý được thải vào nơi tiếp nhận qua một đường ống nước thải. Nước thải được tạo ra ở khu vực không tiếp cận được với hệ thống thoát nước sẽ được xử lý bằng hệ thống xử lý nước tại chỗ. Hệ thống này thông thường bao gồm một bể phốt, ruộng tiêu nước, và một đơn vị xử lý tại chỗ. Việc quản lý nước thải thuộc về sự bao quát toàn bộ điều kiện hệ thống vệ sinh, giống như quản lý chất bài tiết của con người, chất thải rắn, nước mưa bão.
Nước cống là một loại nước thải bao gồm nước thải từ các hộ gia đình và do đó nhiễm bẫn từ nhà vệ sinh của người dân. Nhưng nước cống về lâu dài cũng được sử dụng là giá trị trung bình cho bất cứ loại nước thải nào. Hệ thống thoát nước là cơ sở hạ tầng vật lý, bao gồm đường ống, máy bơm, tấm chắn, mương rãnh,... được sử dụng để chuyển tải nước thải từ nơi phát sinh đến nơi xử lý hoặc loại bỏ.
Xuất xứ
Nguồn gốc của nước thải có thể bao gồm:
- Chất thải sinh hoạt
- Rò rỉ từ bể phốt
- Xả từ bể phốt
- Nước cống
- Nước rửa (cá nhân, quần áo, sàn nhà, nấu ăn,...) và bùn rác
- Nước mưa từ mái nhà, sân bãi...
- Nước ngầm thấm vào cống
- Nước thừa từ quá trình sản xuất chất lỏng
- Dòng chảy nước mưa trong khu đô thị từ đường phố, vỉa hè, mái nhà...
- Nước biển xâm nhập (nồng độ muối và vi khuẩn cao)
- Nước sông xâm nhập trực tiếp (nồng độ vi sinh vật cao)
- Các chất lỏng nhân tạo xâm nhập trực tiếp (như thuốc trừ sâu, dầu đã qua sử dụng,...)
- Hệ thống thoát nước đường cao tốc
Phân loại
Thông thường, nước thải được phân loại dựa trên nguồn gốc phát sinh của nó:
- Nước thải sinh hoạt: Nước thải từ các khu dân cư, khu vực thương mại, văn phòng, trường học và các cơ sở tương tự khác.
- Nước thải công nghiệp (hay còn gọi là nước thải sản xuất): Nước thải từ các nhà máy đang hoạt động hoặc nơi nước thải công nghiệp là chủ yếu.
- Nước thấm qua: Lượng nước thấm vào hệ thống ống qua các cách khác nhau, thông qua các mối nối, các ống bị lỗi hoặc các hố gas và hố xí.
- Nước thải tự nhiên: Nước mưa được xem là nước thải tự nhiên trong các thành phố hiện đại, được thu gom bằng hệ thống riêng.
- Nước thải đô thị: Là thuật ngữ chung chỉ chất lỏng trong hệ thống thoát nước của thành phố, thị trấn; đó là hỗn hợp của các loại chất thải khác nhau.
Thành phần
Thành phần của nước thải rất đa dạng. Có thể bao gồm danh sách sau:
- Nước (hơn 95%), thường được thêm vào trong quá trình xử lý rác thải bằng cách đổ vào hệ thống cống;
- Các tác nhân gây bệnh như vi khuẩn, virus, prion, giun sán;
- Các vi khuẩn có lợi;
- Các chất hữu cơ như phân bón, lông, tóc, thực phẩm, nguyên liệu thực vật, bùn...;
- Các chất hữu cơ tan như ure, đường, protein tan, dược phẩm...;
- Các hạt vô cơ như cát, sạn, hạt kim loại, gốm sứ...;
- Các chất vô cơ tan như amoni, muối, xyanua, H2S, thyoxinat,...;
- Động vật như động vật nguyên sinh, côn trùng...;
- Băng vệ sinh, bao cao su, tã, kim tiêm, đồ chơi trẻ em, xác động vật, thực vật...;
- Các khí hydro sulfide, metan, cacbonic...;
- Các hệ nhũ tương như sơn, chất kết dính, màu nhuộm tóc,...;
- Các chất độc như thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc độc,...;
- Dược phẩm, hormone và các chất độc hại khác.
Chỉ tiêu chất lượng
Giá trị tối đa cho phép của các thông số ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt
Giá trị tối đa cho phép của các thông số ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt khi xả vào nguồn nước tiếp nhận không được vượt quá giá trị Cmax được tính như sau:
Cmax = C x K
Trong đó:
Cmax là nồng độ tối đa cho phép của các thông số ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt khi xả vào nguồn nước tiếp nhận, tính bằng miligam trên một lít nước thải (mg/l);
C là giá trị nồng độ của các thông số ô nhiễm được quy định trong Bảng 1 mục 2.2.
K là hệ số áp dụng cho quy mô, loại hình dịch vụ, công cộng và chung cư được quy định tại mục 2.3.
Không áp dụng công thức tính nồng độ tối đa cho phép trong nước thải cho các thông số pH và tổng coliforms.
Giá trị C của các thông số ô nhiễm là cơ sở tính toán giá trị tối đa cho phép trong nước thải sinh hoạt.
Giá trị C của các thông số ô nhiễm là cơ sở để tính toán giá trị tối đa cho phép Cmax trong nước thải sinh hoạt khi thải ra các nguồn nước tiếp nhận nước thải được quy định trong Bảng 1.
Bảng 1 - Giá trị các chỉ số ô nhiễm dùng làm cơ sở để tính toán giá trị tối đa cho phép trong nước thải sinh hoạt
| TT | Thông số | Đơn vị | Giá trị C | |
|---|---|---|---|---|
| A | B | |||
| 1 | pH | - | 5-9 | 5-9 |
| 2 | BOD5 (20C) | |||
Nơi đó:
- Cột A quy định giá trị C của các chỉ số ô nhiễm dùng làm cơ sở để tính toán
giá trị tối đa cho phép trong nước thải sinh hoạt khi xả vào các nguồn nước được sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt (có chất lượng nước tương đương với cột A1 và A2 của Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt).
- Cột B quy định giá trị C của các chỉ số ô nhiễm dùng làm cơ sở để tính toán giá trị tối đa cho phép trong nước thải sinh hoạt khi xả vào các nguồn nước không sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt (có chất lượng nước tương đương với cột B1 và B2 của Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt hoặc vùng nước biển ven bờ).
Để đánh giá chất lượng môi trường nước, người ta phải dựa vào một số chỉ tiêu như vật lý, hóa học, sinh học. Thông qua các chỉ số này, ta có thể đánh giá mức độ ô nhiễm hoặc hiệu quả của các phương pháp xử lý.
Các chỉ tiêu vật lý
Nhiệt độ: Nhiệt độ của nước tự nhiên phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, thời tiết và môi trường của khu vực. Nhiệt độ của nước thải từ các nhà máy nhiệt điện, nhà máy hạt nhân thường cao hơn từ 10-15°C so với nước bình thường. Nước nóng có thể gây ô nhiễm hoặc có ích tùy thuộc vào mùa và vị trí địa lý. Ở các vùng khí hậu ôn đới, nước nóng có thể kích thích sự phát triển của vi sinh vật và các quá trình phân hủy. Tuy nhiên, ở các vùng nhiệt đới, nước nóng có thể làm thay đổi các quá trình sinh học, hóa học, lý học bình thường của hệ sinh thái nước, làm giảm lượng oxy hòa tan vào nước và tăng nhu cầu oxy của cá lên gấp đôi. Một số loài sinh vật không chịu được nhiệt độ cao có thể chết hoặc di chuyển đi nơi khác, trong khi các loài khác có thể phát triển mạnh ở nhiệt độ thích hợp.
Màu sắc: Nước có thể có màu sắc khác nhau, đặc biệt là nước thải thường có màu đen hoặc nâu. - Các chất hữu cơ từ sự phân hủy của xác động vật và thực vật tạo thành; - Nước chứa sắt và mangan dưới dạng keo hoặc hòa tan; - Nước có chứa các chất thải từ công nghiệp (chrom, tannin, lignin); Màu sắc của nước thường được chia thành hai loại: màu thực do các chất hòa tan hoặc dạng hạt keo, màu bề ngoài là màu của các hạt lơ lửng trong nước. Trong thực tế, màu sắc của nước được xác định dựa trên phương pháp so sánh với các dung dịch chuẩn như clorophantinat coban;
Độ đục: Độ đục của nước phụ thuộc vào các hạt lơ lửng, các chất hữu cơ phân hủy hoặc do sinh vật thủy sinh gây ra. Độ đục ảnh hưởng đến khả năng truyền ánh sáng trong nước, làm giảm khả năng quang hợp của các sinh vật tự dưỡng, ảnh hưởng đến thẩm mỹ và chất lượng của nước sử dụng. Vi sinh vật có thể bị hấp thụ bởi các hạt rắn lơ lửng, làm cho việc khử trùng trở nên khó khăn. Độ đục càng cao thì nước nhiễm bẩn càng nhiều;
Mùi vị: Nước sạch là nước không có mùi vị. Khi xuất hiện mùi, đó là dấu hiệu của ô nhiễm. Trong nước thải, mùi có thể rất đa dạng tùy thuộc vào lượng và tính chất của chất gây ô nhiễm;
Các chỉ tiêu hóa học và sinh học
Độ pH: Giá trị pH của nước thải đóng vai trò quan trọng trong quá trình xử lý. Giá trị pH cho phép lựa chọn phương pháp xử lý thích hợp hoặc điều chỉnh lượng hóa chất cần thiết. Các hệ thống xử lý nước bằng phương pháp sinh học thường hoạt động ở mức pH từ 6,5 – 9. Môi trường pH tối ưu cho sự phát triển của vi khuẩn thường là 7 – 8. Các nhóm vi khuẩn khác nhau có giới hạn pH khác nhau;
Chỉ số DO: Là lượng oxy hòa tan cần thiết để duy trì sự sống của sinh vật dưới nước. Trong nước tự nhiên, mức oxy hòa tan thường khoảng 8 – 10 mg/l, chiếm 70 – 80% của mức oxy hòa tan bão hòa. Mức oxy hòa tan trong nước thải phụ thuộc vào mức độ ô nhiễm hữu cơ, hoạt động sinh học, hóa học và vật lý của nước. Trong môi trường nước bị ô nhiễm nặng, oxy hòa tan thường phải dùng nhiều cho các quá trình sinh học và có thể gây ra tình trạng thiếu oxy nghiêm trọng;
Chỉ số BOD (nhu cầu oxy hóa sinh học - Biochemical Oxygen Demand): Là lượng oxy cần thiết để oxy hóa các chất hữu cơ trong nước bằng vi sinh vật (chủ yếu là vi khuẩn) trong quá trình sinh học. Quá trình này diễn ra trong một thời gian dài và phụ thuộc vào tính chất của chất hữu cơ, loài vi sinh vật, và nhiệt độ nước nguồn. Bình thường, 70% nhu cầu oxy được tiêu thụ trong 5 ngày đầu được gọi là BOD5, 20% tiếp theo trong 5 ngày tiếp theo, 99% vào ngày thứ 20 và 100% vào ngày thứ 21;
Chỉ số COD (nhu cầu oxy hóa hóa học - Chemical oxygen Demand): Là lượng oxy cần thiết để oxy hóa hóa học các chất hữu cơ trong nước thành CO2 và H2O bằng các tác nhân oxy hóa mạnh. COD chỉ ra lượng chất hữu cơ có thể oxy hóa thông qua các phản ứng hóa học. Chỉ số COD thường cao hơn BOD vì nó bao gồm cả chất hữu cơ không bị oxy hóa bởi vi sinh vật. Hàm lượng COD có thể được xác định bằng phương pháp trắc quang sử dụng dung dịch dư K2Cr2O7 là chất oxy hóa mạnh trong môi trường axit với xúc tác là Ag2SO4. Ngoài ra, có thể xác định COD bằng phương pháp chuẩn độ, trong đó lượng CrO2 dư được chuẩn độ bằng dung dịch Feroin;
Chỉ số vệ sinh (E-coli): Trong nước thải đặc biệt là nước thải sinh hoạt, nước thải bệnh viện, nước thải từ khu du lịch, dịch vụ, và khu chăn nuôi,... có nhiều vi sinh vật có nguồn gốc từ phân người và phân của các động vật. Trong số đó, có nhiều loại vi khuẩn gây bệnh đặc biệt như bệnh liên quan đến tiêu hóa như bệnh tiêu chảy, lỵ, thương hàn, và các loại vi khuẩn gây ngộ độc thực phẩm. Vi khuẩn E-coli là một trong những loài phổ biến trong nước thải, có thể tồn tại trong điều kiện môi trường khắc nghiệt cũng như trong phòng thí nghiệm. Vì vậy, việc sử dụng E-coli làm chỉ tiêu để đánh giá chất lượng nước thải là rất quan trọng;
Xử lý
Có nhiều phương pháp được áp dụng để xử lý nước thải tùy thuộc vào loại và mức độ ô nhiễm. Nước thải có thể được xử lí tại các nhà máy xử lý bao gồm các quy trình vật lý, hóa học và sinh học.
Xử lý nước thải bằng phương pháp vật lý
Nước thải từ công nghiệp và sinh hoạt thường chứa các chất tan và không tan dưới dạng hạt lơ lửng. Các tạp chất này có thể là rắn hoặc lỏng, tạo thành dung dịch huyền phù khi hòa vào nước. Để loại bỏ rác và hạt lơ lửng khỏi nước thải, người ta thường sử dụng các phương pháp cơ học như lọc qua song chắn hoặc lưới, lắng dưới tác dụng của lực trọng trường hoặc lực ly tâm. Lựa chọn phương pháp xử lý phụ thuộc vào kích thước hạt, tính chất vật lý, nồng độ hạt lơ lửng, lưu lượng nước thải và mức độ làm sạch cần thiết.
- Song chắn rác (lưới lược thô) hoạt động thủ công;
- Lưới chắn rác (lưới lược tinh) hoạt động tự động;
- Bể điều hòa ổn định lưu lượng;
- Bể lắng đơn và kép để tách cặn lơ lửng;
Phương pháp xử lý cơ học có thể loại bỏ đến 60% các tạp chất không tan và giảm đáng kể chất ô nhiễm có khả năng phân hủy sinh học (BOD) lên đến 20%.
Xử lí nước thải bằng phương pháp hóa lý
Xử lí nước thải bằng công nghệ hấp phụ: được sử dụng rộng rãi để loại bỏ hoàn toàn các chất hữu cơ hòa tan sau khi đã qua xử lý sinh học và cục bộ khi nồng độ rất thấp các chất này trong nước thải. Những chất này không thể phân hủy bằng đường sinh học và thường có độc tính cao. Việc áp dụng công nghệ hấp phụ là hợp lý khi chi phí của chất hấp phụ không quá lớn.
Công nghệ trao đổi ion để xử lý nước: Công nghệ trao đổi ion được sử dụng để làm sạch nước hoặc nước thải khỏi các kim loại như Zn, Cu, Cr, Ni, Pb, Hg, Cd, Mn,… cũng như các hợp chất như asen, phosphor, xyanua và chất phóng xạ. Phương pháp này cho phép thu hồi các chất và đạt được mức độ làm sạch cao, vì vậy nó rất phổ biến trong việc tách muối trong xử lý nước và nước thải. Quá trình trao đổi ion là một quá trình trong đó các ion trên bề mặt của chất rắn trao đổi với các ion có cùng điện tích trong dung dịch khi tiếp xúc với nhau. Các chất này, gọi là ionit (chất trao đổi ion), hoàn toàn không tan trong nước. Các chất trao đổi ion có khả năng trao đổi các ion dương từ dung dịch điện ly, gọi là anionit, và chúng có tính kiềm. Nếu ionit trao đổi cả cation và anion thì được gọi là ionit lưỡng tính. Các chất trao đổi ion có thể là các chất vô cơ hoặc hữu cơ, có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp nhân tạo.
Công nghệ keo tụ tạo bông để xử lý nước thải: Các hạt trong nước tự nhiên rất đa dạng về chủng loại và kích thước, bao gồm hạt từ sét, mùn, vi sinh vật, và sản phẩm hữu cơ phân hủy, với kích thước từ vài micromet đến vài milimet. Phương pháp xử lý cơ học chỉ loại bỏ được hạt có kích thước lớn hơn 1mm. Với hạt nhỏ hơn, nếu dùng phương pháp lắng tĩnh, thời gian xử lý sẽ rất dài và hiệu quả không cao, do đó cần sử dụng phương pháp xử lý hóa lý. Mục tiêu của quá trình keo tụ tạo bông là tách các hạt cặn có kích thước 0,001 m mà không thể loại bỏ bằng các phương pháp lý học như lắng, lọc hoặc tuyển nổi. Cơ chế của quá trình này bao gồm:
- Quá trình nén lớp điện tích kép, giảm thế điện đông zeta nhờ ion trái dấu.
- Quá trình keo tụ nhờ hấp phụ ion trái dấu trên bề mặt, trung hòa điện tích.
- Cơ chế hấp phụ-tạo cầu nối;
Công nghệ thẩm thấu để xử lý nước thải: Các kỹ thuật như điện thẩm tích, thẩm thấu ngược, siêu lọc và các quá trình tương tự đóng vai trò quan trọng trong xử lý nước thải. Màng được định nghĩa là lớp ngăn cách giữa các pha khác nhau, có thể là chất rắn, gel (chất keo) trương nở do dung môi hoặc chất lỏng. Việc ứng dụng màng để tách các chất phụ thuộc vào độ thấm của các hợp chất qua màng.
Công nghệ sinh học trong xử lý nước thải
Được áp dụng để xử lý các chất hữu cơ hòa tan có trong nước thải và một số chất vô cơ như H2S, sunfit, ammonia, nito,… dựa trên hoạt động của vi sinh vật để phân hủy các chất gây ô nhiễm. Vi sinh vật sử dụng các chất hữu cơ và một số khoáng chất làm thức ăn để sinh trưởng và phát triển. Phương pháp xử lý sinh học có thể chia làm hai loại chính:
- Phương pháp kỵ khí: sử dụng nhóm vi sinh vật kỵ khí, hoạt động trong điều kiện thiếu oxy;
- Phương pháp hiếu khí: sử dụng nhóm vi sinh vật hiếu khí, hoạt động trong điều kiện cung cấp oxy liên tục. Quá trình phân hủy các chất hữu cơ bằng vi sinh vật được gọi là quá trình oxy hóa sinh học;
Để thực hiện quá trình này, các chất hữu cơ hòa tan, cả chất keo và các chất phân tán nhỏ trong nước thải cần di chuyển vào bên trong tế bào vi sinh vật theo 3 giai đoạn chính sau:
- Chuyển các chất ô nhiễm từ pha lỏng vào bề mặt tế bào vi sinh vật;
- Khuếch tán từ bề mặt tế bào qua màng bán thấm do sự chênh lệch nồng độ bên trong và bên ngoài tế bào;
- Chuyển hóa các chất trong tế bào vi sinh vật, sản xuất năng lượng và tổng hợp tế bào mới;
Nước thải đô thị, nông nghiệp và công nghiệp đều có quy trình xử lí riêng; Đối với nước thải đô thị, việc sử dụng bể phốt và các thiết bị xử lý nước thải tại chỗ phổ biến rộng rãi ở nông thôn; Hệ thống xử lí hiếu khí là quá trình bùn hoạt tính, dựa trên việc duy trì và tuần hoàn một sinh khối phức tạp gồm vi sinh vật có khả năng hấp thụ và phân hủy các chất hữu cơ trong nước thải. Quy trình xử lí nước thải hiếu khí cũng được áp dụng rộng rãi trong xử lí nước thải công nghiệp và bùn sinh học. Nước thải sau xử lí có thể tái sử dụng cho sinh hoạt. Các công trình đầm lấy cũng đang được sử dụng..
Tái sử dụng
Nước thải sau xử lý có thể tái sử dụng trong công nghiệp (ví dụ như trong hệ thống làm mát), nạp bổ sung các tầng ngầm nước, trong nông nghiệp và khôi phục các hệ sinh thái tự nhiên. Trong nhiều trường hợp, nước thải có thể được sử dụng làm nước uống. Có nhiều công nghệ có thể xử lý nước thải để tái sử dụng. Kết hợp của nhiều công nghệ này có thể đáp ứng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về xử lý và đảm bảo rằng nước được xử lý an toàn vệ sinh, không chứa vi khuẩn và virus. Dưới đây là một số công nghệ phổ biến: ozon hóa, lọc siêu mịn, bioreactor màng, thẩm thấu chuyển tiếp, thẩm thấu ngược, oxy hóa tiên tiến. Một số hoạt động yêu cầu sử dụng nước không tinh khiết; trong những trường hợp này, nước thải có thể được tái sử dụng mà không cần xử lý hoặc xử lý ít. Ví dụ: nước dùng trong nhà vệ sinh có thể được tái sử dụng bằng cách sử dụng greywater từ phòng tắm và vòi sen, có thể được xử lý sơ bộ hoặc không xử lý;
Nông nghiệp
Có thể sử dụng nước thải đã được xử lý để tưới tiêu. Lợi ích: chi phí thấp, có thể cung cấp liên tục dù trong bất kỳ điều kiện thời tiết nào, khí hậu, và tiết kiệm nguồn nước sạch. Nước tưới tiêu này có lợi cho cây trồng vì nó chứa các chất dinh dưỡng như nitơ, phospho và kali. Thực tế, khoảng 90% nước thải từ sản xuất trên toàn cầu vẫn chưa được xử lý, gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước, đặc biệt là ở các nước có thu nhập thấp. Ngày càng có nhiều vùng sử dụng nước thải chưa qua xử lý để tưới. Các thành phố cung cấp thị trường tiềm năng cho sản phẩm tưới, do đó hấp dẫn đối với các nông dân. Tuy nhiên, do nhu cầu nước ngày càng khan hiếm trong nông nghiệp và thành phố, không có phương án nào thay thế cho nông dân sử dụng nước thải đô thị trực tiếp để tưới cây;
Rủi ro về sức khỏe
Nước thải từ thành phố thường chứa một hỗn hợp các chất ô nhiễm hóa học và sinh học. Ở các quốc gia có thu nhập thấp, nước thải thường chứa nhiều mầm bệnh từ phân bón, trong khi ở các nước đang phát triển với công nghiệp phát triển, nguy cơ từ các hóa chất vô cơ và hữu cơ ngày càng tăng. Tổ chức Y tế Thế giới, phối hợp với Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO) và Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP), đã đưa ra hướng dẫn sử dụng nước thải an toàn từ năm 2006. Các hướng dẫn này ủng hộ một tiếp cận 'rào cản nhiều' trong việc sử dụng nước thải, ví dụ như khuyến khích nông dân thực hiện các biện pháp giảm nguy cơ khác nhau, như ngừng tưới cây vài ngày trước khi thu hoạch để mầm bệnh bị tiêu diệt dưới ánh nắng mặt trời, sử dụng nước cẩn thận để không làm ô nhiễm rau quả, rửa rau bằng nước sạch hoặc cho phép bùn phân được sử dụng trên nông trường để khô trước khi sử dụng làm phần của chu trình sản xuất nông nghiệp.
Luật pháp
Úc
Là một phần của Đạo luật Bảo vệ Môi trường 1994, Chính sách Bảo vệ Môi trường (Nước) năm 2009 có trách nhiệm quản lý nguồn nước Queensland, Úc
Nigeria
Tại Nigeria, Luật Tài nguyên Nước năm 1993 là quy định pháp luật chịu trách nhiệm cho mọi loại hình quản lý tài nguyên nước.
Ở Philippines, Đạo luật Cộng hòa 9275, hay còn gọi là Đạo luật Nước sạch Philippines năm 2004, là văn bản pháp luật quản lý nước thải. Đây là luật quy định chính sách của chính phủ về bảo vệ, bảo tồn và phục hồi chất lượng nước ngọt, nước lợ và biển, trong đó vai trò quản lý nước thải đóng vai trò rất quan trọng.
Ở Hoa Kỳ, Đạo luật Nước sạch là văn bản pháp luật liên bang chính nhằm quản lý ô nhiễm nước mặt. Luật này được thực thi bởi Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ phối hợp với các tiểu bang, vùng lãnh thổ và các bộ lạc. Các điều khoản bảo vệ nguồn nước ngầm được bao gồm trong Đạo luật An toàn vệ sinh của Nước uống, Đạo luật Bảo tồn và Phục hồi Tài nguyên, và Đạo luật Superfund.
Ở Mỹ, Đạo luật Nước sạch là văn bản pháp luật quản lý ô nhiễm nước mặt. Luật này được thực thi bởi Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ phối hợp với các tiểu bang, vùng lãnh thổ và các bộ lạc. Các điều khoản bảo vệ nguồn nước ngầm được bao gồm trong Đạo luật An toàn vệ sinh của Nước uống, Đạo luật Bảo tồn và Phục hồi Tài nguyên, và Đạo luật Superfund.
Ở Mỹ, Đạo luật Nước sạch là văn bản pháp luật quản lý ô nhiễm nước mặt. Luật này được thực thi bởi Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ phối hợp với các tiểu bang, vùng lãnh thổ và các bộ lạc. Các điều khoản bảo vệ nguồn nước ngầm được bao gồm trong Đạo luật An toàn vệ sinh của Nước uống, Đạo luật Bảo tồn và Phục hồi Tài nguyên, và Đạo luật Superfund.
