Sau gần 30 năm phát triển ngành công nghiệp ô tô, các doanh nghiệp liên doanh tại Việt Nam đã cam kết tăng tỷ lệ nội địa hóa ô tô theo từng giai đoạn. Tuy nhiên, thiếu chính sách quản lý có chế tài ràng buộc về việc tăng tỷ lệ nội địa hóa là một trong những nguyên nhân khiến ngành công nghiệp ô tô Việt Nam vẫn chưa giải quyết được vấn đề này.

Chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô tại Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2035 được ban hành theo Quyết định số 1168/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 16/7/2014. Theo đó, đến năm 2020, ngành công nghiệp hỗ trợ sản xuất ô tô đã cơ bản hình thành và phấn đấu đáp ứng khoảng 35% (tính theo giá trị) nhu cầu về linh kiện, phụ tùng cho sản xuất lắp ráp ô tô trong nước. Trong giai đoạn 2021 - 2025, dự kiến sẽ bắt đầu sản xuất được một số chi tiết quan trọng trong bộ phận truyền động, hộp số, động cơ (đặc biệt là cho xe khách và xe tải nhẹ)...
Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, ngoại trừ ô tô tải nhẹ và ô tô khách, các mục tiêu đã đề ra đều chưa được đạt. Tỷ lệ nội địa hóa đối với các loại xe cá nhân dưới 9 chỗ ngồi mới đạt khoảng 7 - 10%, thấp hơn rất nhiều so với các quốc gia trong khu vực. Đồng thời, các sản phẩm đã nội địa hóa vẫn giữ mức công nghệ thấp.
Gần đây, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã công bố danh sách về danh mục máy móc, thiết bị, phụ tùng thay thế, phương tiện vận tải chuyên dùng, nguyên liệu, vật tư và bán thành phẩm trong nước đã sản xuất được. Theo đó, các doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ sản xuất được 256 chi tiết và cụm chi tiết cho xe ô tô dưới 9 chỗ ngồi, 14 chi tiết và cụm chi tiết cho xe ô tô trên 9 chỗ ngồi, cùng với 17 chi tiết và cụm chi tiết cho xe ô tô tải.
Các doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào việc sản xuất các sản phẩm đơn giản như keo dán kính chắn gió, ống dẫn xăng, nắp che két nước, lốp, dây điện, miếng đệm biển số sau, chắn bùn, bộ ghế, cản xe, ắc quy, vành xe, ống xả, hệ thống điều hòa không khí...
Chỉ một số ít doanh nghiệp đầu tư vào dây chuyền dập thân và vỏ xe, nhưng danh sách này không bao gồm các chi tiết quan trọng như động cơ, hệ truyền động, hộp số, hệ thống an toàn và các hệ thống điện tử trên xe.
Theo Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), mỗi chiếc ô tô có khoảng 30.000 linh kiện, nhưng đến 80% số này được nhập khẩu để lắp ráp xe trong nước, phần còn lại được sản xuất trong nước nhưng chủ yếu là các chi tiết cồng kềnh và đơn giản. Điều này dẫn đến việc chi phí sản xuất và lắp ráp xe trong nước tăng cao hơn từ 10 – 20% so với các nước trong khu vực.
Ví dụ, Toyota Việt Nam đã đưa ra ví dụ về nắp bình xăng bán ở Thái Lan có giá chỉ 1,5 USD, trong khi ở Việt Nam lại là 3,8 USD. Dù đã qua nhiều lần thương thảo, sản phẩm này vẫn có giá 2,5 USD. Với mức giá này, các doanh nghiệp lắp ráp ô tô sẽ phải tiếp tục nhập khẩu sản phẩm này.
Theo Bộ Công Thương, hiện nay cả nước có khoảng hơn 350 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ ô tô, nhưng phần lớn đều có quy mô nhỏ và gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn, đầu tư công nghệ và việc liên kết giữa các doanh nghiệp này cũng khá yếu. Do đó, việc bãi bỏ các văn bản quy phạm pháp luật không còn phù hợp với thực tiễn phát triển của ngành công nghiệp ô tô, đồng thời cũng không còn phù hợp với các Hiệp định thương mại mà Việt Nam đã ký kết.
Mới đây, Thông tư số 11/2022/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ đã bãi bỏ 3 văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến phương pháp xác định tỷ lệ nội địa hóa đối với ô tô. Cụ thể, đó là Quyết định số 28/2004/QĐ-BKHCN và sửa đổi, bổ sung của nó, cùng với Thông tư số 05/2012/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ.
Các chuyên gia cho rằng, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, các văn bản quy phạm pháp luật trên không còn phù hợp với thực tiễn phát triển của ngành công nghiệp ô tô. Việt Nam hiện vẫn sử dụng cách tính tỷ lệ nội địa hóa dựa trên cụm chi tiết được sản xuất trong nước, trong khi các quốc gia ASEAN lại tính theo tổng giá trị của từng chi tiết cộng lại để hưởng ưu đãi thuế theo Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA).
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã ký kết các Hiệp định thương mại CPTPP, EVFTA… nên các chênh lệch về thuế suất nhập khẩu xe nguyên chiếc và bộ linh kiện không còn, do đó cần bãi bỏ hoặc sửa đổi các quy định liên quan để phù hợp với tình hình thực tế. Việc bãi bỏ các quy định trên không chỉ đảm bảo sự thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật mà còn đáp ứng nhu cầu thực tiễn, phù hợp với tiêu chuẩn chung của khu vực và quốc tế, từ đó giúp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước duy trì sản xuất trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt với ô tô nguyên chiếc nhập khẩu được hưởng thuế suất nhập khẩu theo các Hiệp định Việt Nam đã ký kết.
Theo Thái Quỳnh
