Đề bài: Hãy thực hiện Phân tích đoạn trích Lẽ Ghét Thương, trích từ truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu
1. Dàn ý chi tiết
2. Bài mẫu số 1
3. Bài mẫu số 2
4. Bài mẫu số 3
Phân tích đoạn trích Lẽ Ghét Thương của Nguyễn Đình Chiểu qua góc độ mới, hấp dẫn và độc đáo
I. Kết cấu Phân tích đoạn trích Lẽ Ghét Thương (Tinh tế)
1. Khai mạc
- Tóm tắt vắn tắt về tác phẩm thơ Lục Vân Tiên.
- Giới thiệu chi tiết đoạn trích Lẽ ghét thương.
2. Phần chính
a. Mối liên hệ giữa ghét và thương:
- Nhân vật ông Quán, người đại diện cho tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu, trong đoạn trích là tư tưởng yêu ghét sắc bén.
- Ghét và thương tồn tại với mối liên hệ chặt chẽ, hai khía cạnh đối lập của một tình cảm thống nhất, thương cái tốt đẹp buộc phải ghét cái xấu xa, điều này là mối quan hệ hai chiều không thể tách rời.
- Chi tiết trong đoạn trích này, tình thương thể hiện đối với nhân dân khổ cực và những người tài năng đạo đức nhưng bị áp đặt. => Ghét những kẻ hại dân, gây tổn thương cho con người, đẩy họ vào tình thế oan trái, éo le, nghịch cảnh.
=> Mối liên kết giữa ghét và thương là lý tưởng yêu nước thương dân ở Nguyễn Đình Chiểu.
b. Lý do ghét:
- Sử dụng từ ngữ “ghét” lặp lại 4 lần để nhấn mạnh cảm xúc ở mức độ cao nhất.
- Mục tiêu là “ghét việc tầm phào”, có nghĩa là những hành động không đạo đức, hoang đường làm hại cho nhân dân.
- Chi tiết:
+ Ghét vua Kiệt của nhà Hạ, vua Trụ của nhà Thương, U Vương, Lệ Vương là những kẻ thú dâm, sống phóng túng, hoang phí, bạo ngược không theo đạo đức.
+ Ghét đời “Ngũ bá” vì quyền lực, sử dụng quyền lực quân sự để nắm quyền qua chiến tranh, tạo ra nhiều rối loạn, làm đảo lộn cuộc sống nhân dân.
+ Ghét “đời thúc quý phân bằng”, ý chỉ cảnh suy tàn, sụp đổ của đất nước, dẫn đến tình trạng loạn lạc, cuộc sống nhân dân trở nên lộn xộn và đau khổ.
=> Tâm huyết yêu nước thương dân sâu sắc, lòng nhân đạo mong muốn cảnh bình yên, là điều rất thấu hiểu với những khó khăn mà nhân dân phải chịu đựng dưới chế độ tàn ác, bạo lực của những kẻ nắm quyền thối nát, hoang đường.
c. Lý do thương:
- Giọng điệu của ông Quán trở nên nhẹ nhàng, thể hiện phần nào sự thương cảm và tiếc nuối cho những người đạo đức mà ông cho là xứng đáng được thương yêu.
- Thương “đức thánh nhân” Khổng Tử không thỏa chí truyền bá tri thức đầy đủ, thương “thầy Nhan Tử”, tài năng xuất sắc nhưng lại phải chết sớm.
- Thương Gia Cát Lượng, vị quân sư tài ba, nhưng không được vua trọng dụng, thương cả “Đổng Tử”, “Nguyên Lượng” - những tài năng đầy triển vọng nhưng không được trọng dụng.
- Thương “Hàn Dũ”, “Liêm, Lạc” vốn có tấm lòng can gián, ngăn chặn vua làm những điều thiếu đạo đức, cuối cùng lại bị bạo quân bác bỏ.
=> Thương những con người tài năng, đạo đức, nhưng không có cơ hội, hoặc bị kẻ xấu hại, vua không trọng dụng, dẫn đến tình trạng tài năng trở nên phôi pha, mất đi.
3. Kết luận
Chia sẻ suy nghĩ
II. Bài văn mẫu Phân tích đoạn trích Lẽ Ghét Thương
Bí quyết Phương pháp phân tích đoạn thơ tinh tế, độc đáo
1. Phân tích đoạn trích Lẽ ghét thương, mẫu số 1 (Mới)
Ở vùng Nam, khi nhắc đến tác phẩm Lục Vân Tiên, ai cũng biết đến! Đây là một tuyệt phẩm của Nguyễn Đình Chiểu, sáng tác vào những năm 50 thế kỉ XIX, khi ông bị mù, dạy học và chữa bệnh cho người dân ở Gia Định. Tác phẩm nói về cuộc đấu tranh gay gắt giữa thiện và ác, ca ngợi lòng nhân nghĩa, ước mơ về một xã hội công bằng, con người sống trong tình yêu thương và nhân ái. Trong tác phẩm, đoạn trích Lẽ ghét thương được coi là một trong những đoạn xuất sắc nhất của Lục Vân Tiên.
Đoạn trích Lẽ ghét thương nằm từ câu 473 đến 504 trong Truyện Lục Vân Tiên mô tả cuộc trò chuyện giữa ông Quán và bốn Nho sinh (Vân Tiên, Tử Trực, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm) khi họ cùng nhau uống rượu và thảo luận văn chương trước khi tham gia kỳ thi. Tại cuộc so tài này, ông Quan thể hiện quan điểm về lẽ ghét thương trong cuộc sống. Ông Quán, biểu tượng của tình cảm nhân dân trong Lục Vân Tiên, mang nét đặc trưng của người Nam bộ như Nguyễn Đình Chiểu. Trong lời dạy của ông, một phần là lẽ ghét, một phần là lẽ thương, như câu nói cuối: 'Nửa phần lại ghét, nửa phần lại thương'. Từ đó, ta nhận thức rằng ghét thương luôn đi đôi, thương cái tốt đẹp, ghét cái xấu, cái ác. Trong đoạn trích, ông Quán biểu hiện sự ghét bỏ đối với những kẻ làm hại dân, đẩy họ vào cảnh đau đớn, đồng thời thương những người tài năng đạo đức, nhưng lại bị áp đặt và bị tổn thương.
Mở đầu đoạn trích, ông Quán lên tiếng với sự chân thành của mình:
'Quán bày tỏ: 'Kinh sử đã lặng lẽ Đây là những từ ngữ chân thành của ông sau khi nghe Vân Tiên chia sẻ về lẽ ghét thương trong cuộc sống. Lẽ ghét thương đã được lưu giữ trong kinh sử, những người nghiên cứu văn hóa đều đã cảm nhận được sự đau đớn trong những dòng chữ Thánh hiền. Nhờ lời nói của Vân Tiên, ông Quán đã mở lòng và tâm sự: 'Vì ghét hay thương, đều là vì nhau'. Chứng kiến ông Quán mở lòng, Vân Tiên nhanh chóng đáp lại ông lão: 'Tiên nói: 'Trong đục cho tường Đây là những từ ngữ sáng tạo, khiến ông Quán như mở ra tâm hồn mình để đón nhận lời nói của Tiên về lẽ ghét thương trong cuộc sống. Đầu tiên, ông chia sẻ về lẽ ghét: 'Quán bảo: 'Ghét những việc tầm phào Hai câu thơ đầu tiên về lẽ ghét, Nguyễn Đình Chiểu đã tạo nên bốn từ 'ghét' để nhấn mạnh, để khắc sâu cảm xúc ghét. Dù lời thơ mang vẻ nhẹ nhàng 'ghét những việc tầm phào', nhưng ngữ điệu của nhân vật đã đưa sự ghét lên đến đỉnh điểm. Quán ghét những hành vi 'tầm phào' đó, chỉ những điều nhỏ nhất, xằng bậy, làm hại đến người dân. Đây là những điều khiến Quán ghét đến tận đáy lòng, thể hiện sự nhạy bén và không chấp nhận sự ác độc trong xã hội. Ở đây, người ta cảm nhận được tâm huyết của Nguyễn Đình Chiểu – một nhà Nho yêu nước, ghét bỏ cái thói ăn chơi sa đọa của quân chúa thời đó. Sau khi phát biểu quan điểm về lẽ ghét, ông Quán liệt kê một chuỗi các minh chứng, cụ thể hóa những lẽ ghét của mình. Cấu trúc thơ 'ghét đời...' được tái hiện, với những đối tượng ghét và câu tiếp theo mô tả hậu quả mà chúng gây ra cho nhân dân. Tư duy thẳng thắn, không hoa mỹ, phản ánh tính cách của những người Nam. Từ sách sử Trung Quốc, ông Quán đưa ra nhiều ví dụ về những nhân vật nổi tiếng, lấy đó làm minh chứng cho lẽ ghét của mình với lời lẽ đanh thép, lên án. Ông 'ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm', đây là hai kẻ vua mà ông chọn làm minh chứng đầu tiên cho lẽ ghét của mình. Hai vị vua tàn bạo, vô đạo trong lịch sử Trung Quốc đã mang lại thảm họa cho nhân dân, gây nên chiến tranh loạn lạc. Ông cũng ghét hai vị vua 'U, Lệ đa đoan', không chỉ tàn bạo mà còn gây khổ đau cho nhân dân. Ông ghét thời kỳ 'ngũ bá phân tranh', vì lòng tham, ích kỷ tạo nên chiến tranh không ngừng, đẩy dân chúng vào cảnh đau khổ. Mỗi lý do ông Quán 'ghét cay ghét đắng' đều phản ánh tình yêu nước thương dân sâu sắc, chỉ ghét những kẻ vô lương tâm, áp bức dân nghèo. Ông cũng thấu hiểu nỗi đau của nhân dân phải sống dưới bóng của lũ vua tàn bạo, vô đạo. Lẽ ghét của ông Quán được mô tả rõ ràng, vậy lẽ 'nửa thương' thì sao? Cũng giống như lẽ ghét, ông Quán trình bày lẽ thương bằng các ví dụ cụ thể, nhưng bốn câu thơ nhiều hơn so với lẽ ghét. 'Thương là thương đức thánh nhân Tiếp tục với lời diễn đạt giống như ở phần ghét, cấu trúc câu vẫn giữ nguyên, nhưng ở đây, ông Quán trở nên nhẹ nhàng, dịu dàng hơn, không còn sắc bén như lẽ ghét. Ông sử dụng kiến thức rộng lớn để minh họa về lẽ thương trong cuộc sống, đặc biệt là đối với bốn sĩ tử trẻ. Những nhân vật lịch sử nổi tiếng trong văn hóa Trung Quốc được ông nêu ví dụ làm tượng trưng cho lẽ thương ở đời. Đối với ông, ông thương những 'đức thánh nhân' như Khổng Tử, những người đã đóng góp cho Nho giáo - nền tảng tinh thần của xã hội Trung Hoa. Khổng Tử sáng tạo Nho giáo và cống hiến bản thân để truyền bá tri thức trong suốt thời gian, mặc dù sau này ông phải trở thành một thầy giáo bình thường. Ông thương 'thầy Nhan Tử' - học trò xuất sắc của Khổng Tử, một tài năng đầy tri thức nhưng lại qua đời sớm. Ông cũng thương cho 'Gia Cát' - một quân sư tài ba cho Hán Cao Tổ Lưu Bang, người giỏi nhưng sống trong thời kỳ đầy biến động, và cuối cùng chấp nhận số phận trở về quê hương với nông trại. Ông thấu hiểu đau thương cho 'Nguyên Lượng', 'Đổng Tử' - những anh hùng tài năng của Trung Quốc, bị trục xuất hay giảm chức vì kiến nghị đúng đắn mà họ đã đưa ra. Lẽ thương của ông Quán đặt ra cho những anh hùng tài năng nhưng gặp phải số phận khó khăn, éo le, không thuận lợi, không có cơ hội để phát triển. Qua đó, sự tài năng và lòng trung hiếu bị lãng quên theo thời gian. Nhìn sâu vào lẽ thương của ông, ta hiểu được tâm huyết của một người theo đạo Nho, yêu nước và trân trọng tài năng nhưng lại không được đánh giá cao, và ngược lại, không mến những kẻ đê tiện, những vị vua bạo ngược gây thương nhân dân. Lẽ thương và lẽ ghét của ông Quán liên quan chặt chẽ, điều này được thể hiện qua lời kết: 'Xem qua kinh sử mấy lần Tâm hồn cháy bùng trong lời thơ của Nguyễn Đình Chiểu, lẽ ghét thương nở rộ như hoa quả đỏ trên cành. Bằng từ ngữ đơn giản, ông nói lên tình yêu quê hương, sự chân thành của con người Nam Bộ. Làm say đắm người đọc, lẽ ghét thương là biểu tượng cho tri thức sâu rộ của nhà thơ mùa xuân. Trích đoạn Lẽ ghét thương, Nguyễn Đình Chiểu khéo léo truyền đạt tình cảm bằng bức tranh thơ trữ tình. Tâm huyết yêu nước, lòng thương dân hiện hữu trong từng câu thơ. Điều này giúp ông trở thành lãnh tụ vĩ đại, đứng lên chống lại thế lực xâm lược bất nhân. """"--- Hết bài 1 """"--- Ngoài bài Phân tích Lẽ Ghét Thương, có nhiều bài văn khác như Tìm hiểu đoạn trích Lẽ ghét thương, Cảm nhận về đoạn trích Lẽ ghét thương. Những tác phẩm này giúp học sinh hiểu sâu hơn về tâm trạng và tài năng của Nguyễn Đình Chiểu. Lục Vân Tiên, tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu, là bức tranh về tình cảm và xung đột giữa thiện và ác. Tác giả tận dụng giai đoạn mù để nâng cao tinh thần nhân nghĩa, thể hiện khát vọng về một xã hội tốt đẹp. Đoạn trích Lẽ ghét thương là điểm nhấn tại cuộc thi thơ giữa Vân Tiên và Tử Trực, nơi bắt nguồn cho quan điểm về lẽ thương ghét trên đời của Nguyễn Đình Chiểu. Nhân vật ông Quán, người có vai trò quan trọng trong truyện, không chỉ là trụ cột hỗ trợ cho nhân vật chính mà còn là người phát ngôn của tư tưởng yêu ghét phân minh. Ông Quán thể hiện sự kết nối chặt chẽ giữa ghét và thương, làm nổi bật tư tưởng yêu nước thương dân của Nguyễn Đình Chiểu. Bài văn Phân tích đoạn trích Lẽ ghét thương đẳng cấp nhất, đưa người đọc đắm chìm trong sự sáng tạo và phân tích sắc nét Quán cảm thấy bất bình trước những điều mà ông ghét, được diễn đạt qua những câu thơ chất chứa tình cảm sâu sắc. “Ghét làm gì? Tầm phào vô nghĩa Trong hai câu thơ đầu tiên, tác giả sử dụng từ “ghét” lặp lại 4 lần để nói lên cảm xúc mạnh mẽ về những hành động không tốt. Còn ở tám câu thơ sau, ông Quán chi tiết hóa về những điều mà ông ghét và giải thích nguyên nhân, với cấu trúc 'ghét - đối tượng - đặc điểm - hậu quả cho dân'. Ông liệt kê một loạt các nhân vật lịch sử để minh họa, từ vua Kiệt, Trụ, đến U Vương, Lệ Vương, và ngũ bá. Cuối cùng, ông ghét đời thúc quý, thể hiện lòng yêu nước và thương dân sâu sắc. So sánh với lẽ ghét, ông Quán thể hiện tâm huyết và lòng thương mến trong 14 câu thơ tiếp theo, vượt xa 4 câu thể hiện sự không bằng lòng. Ông chia sẻ tâm trạng và cảm xúc về những điều đáng thương, tạo nên sự cân bằng trong tác phẩm của mình. “Yêu là yêu đức thánh nhân Ở phần này, ông Quán thể hiện sự nhẹ nhàng, thương cảm và nuối tiếc đối với những đức thánh nhân ông cho là đáng được yêu. Ông sử dụng cấu trúc tương tự như khi mô tả lẽ ghét, chỉ thay đổi từ “ghét” sang “yêu”, tạo nên sự đồng nhất trong tác phẩm. Ông liệt kê các nhân vật lịch sử, ví dụ về tình yêu của mình, từ Khổng Tử, Nhan Tử, Gia Cát Lượng đến Đổng Tử, Nguyên Lượng, Hàn Dũ, và Liêm Lạc. Bằng cách này, tác giả vừa thể hiện tình cảm thương mến, vừa làm tôn vinh những con người tài năng, đức độ và lòng yêu nước. Đoạn trích này là sự phản ánh rõ nét của quan điểm yêu nước, thương dân sâu sắc qua quan niệm yêu - ghét của ông Quán. Tâm huyết và tư tưởng nhân đạo của ông hiện rõ trong lời thơ dân tộc giản dị. Bằng cách sử dụng lịch sử và nhân vật nổi tiếng, ông tạo nên một tác phẩm dễ tiếp cận và ghi lại ấn tượng về tình yêu nước và lòng thương dân của Nguyễn Đình Chiểu. Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu là một tác phẩm Nôm dân gian, ra đời vào khoảng những năm 50 thế kỷ 20, thời điểm mà tác giả đã mất khả năng nhìn. Truyện kể về cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, nâng cao tầm quan trọng của cuộc sống tốt đẹp, nơi tinh thần nhân nghĩa và mối quan hệ con người được tôn trọng với những tình cảm chân thành và lòng nhân ái. Trích đoạn Lẽ ghét thương là cuộc trò chuyện của ông Quán, một nhân vật phụ nhưng được lòng độc giả vì tinh thần yêu ghét phân minh, cùng với bốn sĩ tử nổi tiếng là Lục Vân Tiên, Tử Trực, Bùi Kiệm, Trịnh Hâm trước khi họ tham gia kỳ thi. Mở đầu đoạn trích là sự tỏ ra ngẫu nhiên của ông Quán: 'Quán thốt lên: 'Lịch sử đã trôi qua, Lúc Lục Vân Tiên hỏi về quan điểm ghét thương, ông Quán khai màn bằng những câu thơ đầy nghệ thuật. Lẽ ghét thương chẳng qua chỉ là những dòng ký sự lịch sử, khiến độc giả cảm nhận sâu sắc và đau lòng. Nếu Vân Tiên quan tâm, Quán cũng không ngần ngại tiết lộ bởi đơn giản 'Ghét hay thương, đều là tâm huyết'. Vân Tiên không do dự nói: 'Tiên bày tỏ: Trong mịt mờ tường tận, Vân Tiên không ngần ngại khai màn cho nỗi băn khoăn trong lòng, đặt ra câu hỏi về sự hiểu biết về đúng sai, và ông Quán sử dụng căn cứ gì để đưa ra quan điểm về ghét thương của mình. Mười câu tiếp theo là sự mô tả về những điều ông Quán không chấp nhận, vậy ông Quán ghét những gì? 'Quán tuyên bố: Ghét những hành động vô nghĩa Nếu trước đó, bản thơ mang vẻ nhẹ nhàng, lắng đọng, thì câu tiếp theo, ngôn từ của nhân vật trở nên mạnh mẽ, quyết liệt như lưỡi dao chạm vào đá, không cho phép sự thay đổi. Điều này chứng tỏ, trong thế giới của ông Quán, mọi sự tán dóc, vu vơ đều không được tôn trọng. Sử dụng lịch sử Trung Quốc cổ để liệt kê những thứ ông ghét: Ghét vua Kiệt, Trụ mê dâm; ghét U Vương, Lệ Vương đa đoan; ghét đời Ngũ bá phân vân; ghét đời thúc quý phân băng. Những triều đại vua tội lỗi, hoang dâm vô đạo, đẩy nhân dân vào cảnh 'sa hầm sẩy hoang', phải chịu đựng sự lầm than, gian khổ, và loạn lạc là những thứ ông ghét tận đáy lòng. Điều thú vị là sau những lời ghét ấy, ta có thể phát hiện niềm thương yêu lớn lao, tình cảm cao quý của ông Quán đối với đất nước và nhân dân. Ông thương những người vô tội phải chịu đựng mọi khốn cùng dưới sự lãnh đạo thối nát của những vị vua tàn bạo. Thậm chí trong sự ghét đó, ta có thể tìm thấy niềm thương xót sâu sắc, lòng yêu nước của ông, mong muốn nhìn thấy nhân dân sống trong bình yên, con người giao tiếp với nhau dựa trên lòng nhân ái, tình yêu chan hòa. Với những từ ngữ trực tiếp, bài thơ lục bát dân tộc giản dị và cảm xúc sâu sắc, nội dung và ý nghĩa của bài thơ để lại ấn tượng sâu sắc về tư tưởng nhân nghĩa, lòng yêu nước, và tình thương dành cho nhân dân của tác giả Nguyễn Đình Chiểu. Phân tích đoạn trích Lẽ ghét thương để lộ tư tưởng bài thơ. Còn về điều thương, ông Quán thương là 'thương đức thánh nhân', ám chỉ Khổng Tử, người sáng lập Nho giáo, nền tảng tinh thần trong lịch sử cổ xưa. Thương Nhan Tử, Gia Cát Lượng, Đổng Tử, Nguyên Lượng (Đào Tiềm), Hàn Dũ, thầy Liêm (Chu Đôn Di), Lạc (Trình Hạo và Trình Hi), tất cả đều là những nhân vật quan trọng, tài năng vượt trội. Ông thương họ vì điều gì? Ông thương bởi số phận bi thảm, gặp khó khăn và trở ngại, khiến họ không thể phát huy hết tài năng, đó là điều ông cảm thấy thương tâm. Tóm lại, ông Quán thương những con người tài năng, có đạo đức, nhưng gặp khó khăn, bị đối xử không công bằng, lòng thương xót của ông là sự thương xót cho những tài năng và đạo đức bị lãng quên. Trong lẽ thương cũng chứa đựng lẽ ghét, dựa trên lòng yêu nước sâu sắc của ông Quán. Ông thương những bậc thánh nhân, đạo đức, nhưng đồng thời cũng ghét những kẻ gian thần, nịnh bợ, những kẻ lợi dụng quyền lực để làm tổn thương người tốt, đẩy đất nước vào cảnh rối lạc, khiến nhân dân phải chịu đựng nhiều gian khổ. Để kết luận về lẽ ghét thương, ông Quán diễn đạt ý kiến như sau: Dạo mắt qua dòng lịch sử một số lần Tóm lại, tâm lý ghét thương của ông Quán không khác gì lời ghét thương của Nguyễn Đình Chiểu. Ông thương nhân dân phải trải qua những cay đắng, lầm lạc, thương kẻ tài năng nhưng chẳng giúp được gì, lại ghét những kẻ gian dối, miệng nói như chằng chịt. Những kẻ làm vua lại không khác gì bọn hung bạo, gieo rắc bất hạnh và đau đớn cho dòng họ nhân dân. Đoạn trích về lý do ghét thương là sự thổ lộ của nhân vật, cũng là lời chân thành của nhà thơ mù Nguyễn Đình Chiểu. Qua đó, ông thể hiện tâm hồn chính nghĩa, tình nhân ái sâu sắc, lòng yêu nước và thương dân sâu sắc, mong muốn một cuộc sống tươi đẹp, con người giao tiếp với nhau bằng tình thương sắt son, cao thượng. Bài thơ chân thực, phong phú cảm xúc và giản dị nhanh chóng lưu lại trong tâm trí độc giả, việc áp dụng kiến thức lịch sử quốc gia vừa mang lại sự mới mẻ, vừa làm nổi bật quan điểm của nhà thơ. """"" Kết thúc """"--
Xoay so, lòng xót xa bao la
Không hay thương ghét, ghét thương lẽ nào?'
…
Bình minh tối đánh rối bời dân'.
…
Nửa phần lại ghét, nửa phần lại thương'
Nửa phần lại ghét, nửa phần lại thương'.Phân tích đoạn trích Lẽ Ghét Thương, phiên bản số 2 (Chuẩn) mang đậm chất sáng tạo
Ghét ngay, ghét đắng, tận tâm chất chứa
Đời Kiệt Trụ, dâm dật mê hoặc
Dân đau lòng, sa hầm sẩy đầy rẫy
Ghét ông U, ông Lệ, đa đoan không ngừng
Làm dân đau khổ, than muôn phương
Ghét đời ngũ bá, tranh quyền lực
Dối trá, làm dân mệt nhọc
Ghét đời thúc quý, diệt vong suy tàn
Lằng nhằng rối bời, cuộc sống khốn nạn”
Khi nơi Tống, Vệ lúc Trần, lúc Khuông
Yêu thầy Nhan Tử dở dang
Ba mươi mốt tuổi tách đàng công danh
Yêu ông Gia Cát tài lành
Gặp cơn Hán mạt đã đành phôi pha
Yêu thầy Đổng Tử cao xa
Chí thời có chí, ngôi mà không ngôi
Yêu người Nguyên Lượng ngùi ngùi
Lỡ bề giúp nước lại lui về cày
Yêu ông Hàn Dũ chẳng may
Sớm dâng lời biểu tối đày đi xa
Yêu thầy Liêm Lạc đã ra
Bị lời xua đuổi về nhà giáo dân”.3. Phân tích đoạn trích Lẽ ghét thương, mẫu số 3:
Nhưng lòng hằng đau xót, không dứt đuôi
Ghét thương nào hay biết đâu?'
Ghét đắng đến tận cùng tâm hồn',
Một nửa thì phẫn nộ, nửa còn lại đọng thương
Đoạn trích về Lẽ ghét thương, một tác phẩm nổi tiếng của cụ Nguyễn Đình Chiểu, đó là một bài văn quan trọng trong chương trình Ngữ văn lớp 11. Để chuẩn bị tốt cho việc ôn tập và làm các bài kiểm tra trên lớp, hãy tham khảo thêm các bài mẫu Phân tích bài thơ Bài ca ngắn đi trên bãi cát, Phân tích bài thơ Chạy giặc, Phân tích Bài ca ngất ngưởng, phân tích bài thơ Tự Tình 2 của Hồ Xuân Hương,...
