Đề bài yêu cầu phân tích nhân vật người vợ nhặt, làm nổi bật số phận của người dân Việt trước Cách mạng.
Phân tích nhân vật người vợ nhặt để làm nổi bật số phận của người dân Việt trước Cách mạng.
Bài làm
Chiến tranh không phải là âm thanh của bom đạn hay tiếng gào thét của dân đen vô tội. Nó là sự im lặng, vì khi chết rồi, chúng ta không thể lên tiếng. Mặc dù phát xít Nhật đã gieo rắc nỗi đau lên quê hương của chúng ta, nhưng trong bóng tối và sự tuyệt vọng, chúng ta vẫn thấy được tình yêu và ánh sáng. Truyện 'Vợ nhặt' là minh chứng cho sức mạnh của sự sống, vượt qua mọi gian khổ với niềm hy vọng tràn đầy.
Tràng có vẻ ngoài xấu trai nhưng tốt bụng và dễ gần. Xóm làng nghĩ rằng Tràng không thể có vợ, nhưng thời đại đói đó, việc gì là xa xỉ? Nhưng chỉ cần có hy vọng, mọi thứ đều có thể.
Xóm làng hoang tàn và nơi đó đang trải qua những thời kỳ khốn khó. Mặc dù đông người nhưng cảm giác của xóm làng như không có ai, chỉ là những bóng tối lê thê trên con đường. Mặt trời vẫn sáng nhưng trong lòng mọi người lại tối tăm.
Thế mà Tráng có vợ. Xóm làng đói quẫn, biểu hiện rõ nhất qua lũ trẻ. Sự hoạt bát bình thường thay cho sự im ắng thụ động, chắc không ai dạy nhưng chúng biết bớt vận động là bớt bầu bạn với đói. Nhưng Tràng lấy vợ! Bản năng làm chúng tò mò. Chúng nhốn nháo cả một đoạn.
Đường dài quanh co, sự dài ấy như trêu chọc cái e thẹn ban đầu của đôi uyên ương. Nghĩ chữ uyên ương cũng không hợp trong hoàn cảnh này, khi mọi người thường dùng chữ mĩ miều đó cho những đám cưới linh đình. Nay, trên con đường về nhà chồng với xác chết bên đường đủ gần để nhìn thấy sự phân hủy hoặc cứ vang vọng bên tai tiếng khóc tang gia; nghĩ lại, ngày cưới cũng đáng nhớ thật.
Tình yêu luôn là cuộc phiêu lưu. Vì chúng ta không biết sẽ gặp ai, hoặc chúng ta không biết sẽ đi về đâu và kết quả sẽ thế nào với sự lựa chọn đó. Tráng và vợ tham gia cuộc phiêu lưu ấy. Tráng vẫn lo lắng về tương lai. Một miệng nuôi không xong, giờ gánh thêm chẳng phải hại lấy thân và cả người? Đến với nhau tốt đẹp thì đó là duyên lành, nhưng kéo nhau xuống cùng cực lại là nợ đời với nhau. Tráng lại nhớ về cái sự chẳng biết duyên hay nợ kia. Một câu hò để quên khổ lao động, một cái đáp của tuổi trẻ thanh xuân, hai người quen nhau. Lại cộng hưởng giữa đói và sự tốt bụng, họ lại gần nhau hơn. Giờ quay lại với sự thật ngay trước mắt, Tráng có vợ và mẹ anh thì vẫn chưa về.
Sự xuất hiện của người mẹ là điểm nhấn cho sự khổ của cả hai bên. Qua người vợ như tấm gương, ta thấy cả ba gương mặt đói khốc liệt. Và giống như mọi bà mẹ Việt Nam, bà đã khóc. Khóc vì thương, thương cho đứa con mình đã có vợ, thương cả đứa con dâu cũng gặp phải số phận giống như con mình. Khóc vì tủi, tủi cho cái phận nghèo không dễ có được một đám cưới đủ nghi thức hay gần hơn là đủ no, chỉ vài câu chào, vài ánh mắt nhìn thẳng vào nhau, vậy là họ thành gia đình. Và khóc với một chút nghi ngờ, phải chăng vì đến đường cùng, người ta mới gởi thân cho con trai?
Người vợ mới của Tràng, thành viên mới trong gia đình, chắc cũng lo lắng và bận rộn vô số việc. Nhưng không, chắc chắn là như vậy. Phụ nữ Việt vốn giỏi lo toan; công, dung, ngôn, hạnh là tài năng mà họ thể hiện khi về nhà chồng. Nhưng với sự mới mẻ như thế này, chị ấy chưa thể chứng minh gì. Rồi trời cũng tối. Chu kỳ vẫn thế. Sáng mắt ra, Tràng mới dậy. Đời nói rằng mỗi ngày là một ngày mới, và điều đó thực sự đến với Tràng. Nhà cửa gọn gàng hơn, có điều gì đó ấm áp hơn, chỉnh chu và cảm giác như đang chuẩn bị cho tương lai.
Bữa cơm tới. Biết rằng đói luôn luôn đói nhưng vẫn phải ăn đúng giờ. Và họ, gọi cơm như thói quen, nhưng thực ra bữa ăn chỉ là cháo và cám. Trời tránh bữa ăn, nhưng thằng Nhật thì không. Lại vang lên tiếng đòi thuế. Thuế, thuế, lại thuế! Như vết thương mở rộng, mỗi ngày là một trận chiến đến cùng kiệt sức khỏe. Thuế từng ngày là nỗi ám ảnh của dân đen, dân đói. Ruộng vẫn còn, nhưng chúng phải trồng đay. Lúa vẫn có, nhưng lại là của chúng. Dân ta chết, trở thành phân bón cho cánh đồng.
Tràng trơ ra. Sự trơ ra như sự nhu nhược không có sức kháng cự. Cuộc sống của anh là sự chịu đựng và ám ảnh đã trở thành thói quen, anh hiến dâng tương lai cho cái hiện tại khốn khổ này. Không chỉ riêng anh, mà có lẽ cả xóm làng này, không chỉ riêng xóm làng này, mà có lẽ cả một quốc gia Việt Nam này đều bị trơ ra như một lớp vỏ che mất tất cả.
Việt Minh! Hả!? Việt Minh! Tràng như bừng tỉnh. Cái tên này nghe quen ở đâu đó. Anh từng sợ, vì anh không hiểu gì. Nhưng vợ nói, và rồi tin đồn phong phanh, sao anh thấy họ quen thuộc.
Tràng bị cuốn vào dòng suy nghĩ đó, với sự quật khởi, với cờ đỏ. Họ không chỉ là riêng ta, mà ta hòa mình vào họ. Việt Minh không còn xa lạ mà chính là phần thể của chúng ta. Tiếng trống thúc thuế vẫn vang dội. Nhưng! Đó không còn là tiếng trống hoang mang, âm thanh đó giờ đây là tiếng trống trận dành cho mọi tầng lớp bị chà đạp. Sống với niềm tin, họ sẽ sống!
Truyện kết lửng lơ, với Tràng vẫn ngồi với bữa cơm dang dở. Nhưng sự dang dở ấy là điểm khởi đầu cho cuộc chiến kháng cự của một dân tộc, được hình thành từ từng cá nhân. Tràng, vợ Tràng và cả mẹ già, đang nâng cao tay để cùng chung sức với hành trình dài của hàng triệu dân Việt. Pháo đài hòa bình và độc lập sẽ vững chãi trên từng viên gạch của niềm tin và hy vọng.
"""""HẾT"""""
Để có cái nhìn chân thực nhất về cuộc sống và số phận của con người trong nạn đói năm 1945, ngoài nhân vật người Vợ nhặt, các bạn có thể tham khảo thêm về: Phân tích vẻ đẹp của tình người và niềm hy vọng vào cuộc sống của các nhân vật trong truyện ngắn Vợ nhặt, Phân tích giá trị thực tế trong tác phẩm Vợ nhặt, Phân tích nhân vật Tràng trong tác phẩm Vợ nhặt, Phân tích nhân vật Bà cụ Tứ - người mẹ nghèo trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân.
