
Yêu cầu
Phân tích những bài thơ văn được xem là bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc.
Giải đáp chi tiết
YÊU CẦU
1. Đầu tiên, học sinh cần phải lựa chọn chính xác những tác phẩm có hai đặc điểm được đề cập trong đề bài: ra đời trong các giai đoạn quan trọng của lịch sử đất nước và được xem là những tuyên ngôn độc lập của dân tộc. Các tác phẩm đó bao gồm:
- Bài thơ Nam quốc sơn hà của Lí Thường Kiệt (?) ra đời vào khoảng năm 1077 trên trận tuyến sông Như Nguyệt, trong cuộc chiến đấu chống lại quân xâm lược của nhà Tống.
- Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi ra đời vào mùa xuân năm 1428, khi quân và dân ta đánh bại quân Minh, kết thúc cuộc kháng chiến kéo dài hơn 10 năm, mở ra một trang mới trong lịch sử dân tộc.
- Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh ra đời vào tháng 9 năm 1945, chấm dứt hàng nghìn năm chế độ phong kiến và hơn một thế kỷ thống trị của thực dân Pháp, thiết lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
2. Thảo luận về nội dung và tinh thần chung của các tác phẩm này:
Mặc dù ra đời vào các giai đoạn lịch sử khác nhau, có những khác biệt về thể loại, ngôn từ và mục đích sáng tác... nhưng ba tác phẩm trên đều có những nội dung quan trọng tương tự nhau:
Khẳng định mạnh mẽ và rõ ràng chủ quyền độc lập của dân tộc Việt Nam.
Trải qua những khó khăn gian khổ, tổ tiên chúng ta đã trưởng thành, hiểu rõ về tầm quan trọng của sự công bằng và chính nghĩa, ý nghĩa của việc vượt qua những thử thách đầy gian nan. Chính vì thế, qua những ngày tháng đầy gian truân, dân tộc ta càng thêm đoàn kết, sát cánh với nhau vì mục tiêu cao cả.
Dân tộc ta như một gia đình đoàn kết, dựng cờ trúc, cờ phấp phới trên khắp bốn phương trời.
Tâm hồn của tướng sĩ đều hướng về cha ông, hướng về đất nước, tạo nên bức tranh hòa bình, hạnh phúc cho mọi người.
Tác giả đã nhận ra sức mạnh vĩ đại của toàn dân khi họ đoàn kết dưới bóng cờ chính nghĩa, chiến đấu cho sự độc lập và tự do. Hình ảnh này đã được tác giả thể hiện rõ trong tác phẩm. Sự nghiệp chính nghĩa thuộc về nhân dân, và nhân dân là nguồn sức mạnh to lớn, họ là người làm nên chiến thắng và lịch sử. Quân đội chỉ là người biết cách tận dụng sức mạnh của nhân dân. So với bài thơ Nam quốc sơn hà, Đại cáo bình Ngô đã đi sâu hơn, không còn coi tổ quốc là chỉ vương thần mà là toàn bộ nhân dân.
Thực hiện sứ mệnh cao cả để đánh bại ác độc,
Chấp nhận nhân phẩm thay thế sức mạnh bạo lực.
Quan điểm đó thực sự là một biểu hiện tối cao của lòng nhân ái, thể hiện rõ tinh thần chống lại sức mạnh bạo lực, tinh thần đứng vững trên đỉnh cao trước kẻ thù của dân tộc ta. Rất hiếm có quốc gia nào, dân tộc nào có thể tỏ ra hùng mạnh, oai vệ như vậy. Có lẽ dân tộc Việt Nam, mặc dù đã trải qua biển lửa của chiến tranh, nhưng chính phẩm chất nhân đạo đã tạo nên vị thế tuyệt vời ấy? Thực ra, khái niệm vĩ đại và lòng nhân ở đây cũng phần nào nhấn mạnh bản chất đạo đức trong cách ứng xử của dân tộc
Đại cáo bình Ngô không chỉ là một tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Trãi, mà còn là một tác phẩm văn học kiệt xuất trong văn học Việt Nam. Cùng với Nam quốc sơn hà, Đại Cáo Bình Ngô đã phản ánh tinh thần tự cường của dân tộc, thể hiện sức mạnh chiến đấu, quyết tâm bảo vệ quê hương oai hùng. Đại cáo bình Ngô là kết quả của tư duy, tình cảm và ý chí quyết chiến, quyết thắng của dân tộc, nhân dân trong một thời điểm lịch sử quan trọng. Ngày nay, những tác phẩm văn xuôi không bao giờ lỗi thời này được chúng ta thể hiện cao độ trong công cuộc chiến đấu và xây dựng Tổ quốc.
Như vậy, lịch sử của dân tộc đã viết nên những trang sử vĩ đại. Lịch sử ấy đã được phản ánh qua văn học thông qua những nhà văn, nhà thơ lớn và cũng là những anh hùng của dân tộc. Những tác phẩm văn xuôi ấy đích thực là những tuyên ngôn độc lập của dân tộc, khẳng định chủ quyền của dân tộc, tính chất chính nghĩa của những cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của ông cha ta trong thời kỳ phong kiến.
Trải qua hàng thế kỷ dưới chế độ phong kiến và gần một thế kỷ chịu áp bức của thực dân Pháp, dân tộc ta vẫn tạo ra những kỳ tích vĩ đại, vẫn “vươn lên như một thiên thần” (Tố Hữu). Một dân tộc mong muốn tự do, hòa bình và thân thiện, một dân tộc quyết tâm hiến dâng tất cả để bảo vệ độc lập, tự do, và rõ ràng là dân tộc đó phải sống trong độc lập và hòa bình. Chính vì thế, thông qua Cách mạng tháng Tám, dân tộc ta đã phá vỡ xích xiềng nô lệ, bước vào cuộc sống mới. Cách mạng tháng Tám đã mở ra một tương lai xã hội mới, tốt đẹp hơn so với những gì từng có trong lịch sử. Bằng cách mạng này, dân tộc ta đã thấy con đường của mình, con đường không gò ép, không gò bó. Khi lấy lại quyền lực, nhân dân cũng mở ra một chế độ mới, một chế độ dân chủ - cộng hoà. Bản Tuyên ngôn Độc lập được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình là một tuyên ngôn mở đầu cho một thời kỳ mới của dân tộc ta - thời kỳ hòa bình với các quốc gia từng là kẻ thù của Việt Nam hoặc đang theo dõi chúng ta biết rằng: Việt Nam là một quốc gia độc lập, không xâm phạm vào bất kỳ quốc gia nào, và quyết tâm không để bất kỳ quốc gia nào xâm phạm chủ quyền của mình. Đó là một quyết tâm thể hiện rõ ý chí kiên cường của dân tộc ta, ý chí đó là sự tiếp nối truyền thống bất khuất, kiên cường của các thế hệ tiền bối. Lập trường đó rõ ràng và kiên định, không có sức mạnh nào có thể thay đổi. “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” - lời nói bất hủ ấy của Bác Hồ vẫn còn rất sống động. Chính bởi vì độc lập, tự do mà dân tộc ta đã hy sinh máu và tinh thần để bảo vệ quyền tự do, độc lập khi nó bị đe dọa. Bằng lời văn chắc chắn, đầy hào hùng, Bác Hồ đã kết án tội ác tàn bạo của thực dân Pháp, chỉ ra sự phi lý của việc thực dân Pháp thiết lập bá quyền trên đất nước Việt Nam. Ông đã phơi bày rõ trong hơn một thế kỷ qua, thực dân Pháp không phải là bạn của dân tộc Việt Nam. Họ đã ẩn mình dưới một vẻ ngoài “văn minh”, “khai hoá” để lừa bịp, áp bức dân tộc ta, và chính họ là những kẻ đã bán nước hai lần cho kẻ thù Nhật. Ông nhấn mạnh, nhân dân ta đã giành lại độc lập từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp và thực tế là chúng ta đã giành lại quyền lực trước khi quân đồng minh đến giúp chúng ta. Vậy nên, việc Việt Nam có quyền độc lập là hợp lý, tự nhiên “Việt Nam thuộc về người Việt Nam”. Điều đó là một chân lý; trước đó dân tộc ta đã khẳng định chân lý ấy một cách rõ ràng, mạnh mẽ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố với thế giới rằng: “Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và điều này đã trở thành hiện thực. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết tâm hiến dâng tất cả tinh thần và sức mạnh, cả sinh mạng và của cải để bảo vệ quyền tự do, độc lập đó”.
Bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tác phẩm văn học tuyệt vời của văn học hiện đại Việt Nam. Nó tiếp tục truyền thống của tổ tiên trong việc khẳng định chủ quyền không thể xâm phạm của quốc gia, và quyền sống trong tự do, độc lập của dân tộc. Xuất hiện vào những ngày đầu của Cách mạng tháng Tám thành công. Bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực sự trở thành bài phát biểu quả quyết của dân tộc Việt Nam trước thế giới: Nước Việt Nam là một quốc gia độc lập, dân tộc Việt Nam tự hào sẵn sàng chiến đấu hi sinh cho độc lập của mình.
Ngày nay, chúng ta sống trong một xã hội hòa bình, nơi mọi người có quyền tự do phát triển tiềm năng và trí tuệ của mình. Chúng ta tự hào về truyền thống không khuất phục của dân tộc. Truyền thống này đã và đang truyền sức mạnh cho chúng ta trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Lê Quỳnh Trang Trường Trung học phổ thông Hà Nội – Amsterdam
