Đề bài: Phân tích những đặc điểm nghệ thuật trong hai câu thơ cuối bài thơ Vọng nguyệt
2 mẫu văn Phân tích những đặc điểm nghệ thuật trong hai câu thơ cuối bài thơ Vọng nguyệt
Mẫu số 1: Phân tích những nét đặc sắc nghệ thuật ở hai câu thơ cuối bài thơ Vọng nguyệt
Nhìn về hướng trước, đôi mắt ngắm trăng, Nguyệt hòa mình với những khúc ca thi sĩ.
Các từ ngữ như nhân - nguyệt, hướng - tòng, khán minh nguyệt - khán thi gia tạo nên sự đối chiếu tuyệt vời, tạo nên điệu nhảy của tâm hồn giữa con người và vẻ đẹp trăng. Kỳ lạ là từ người (nhân, thi gia) và từ trăng (nguyệt) nằm ở hai đầu, giữa là cánh cửa nhà tù (song). Thế nhưng, giữa người và trăng vẫn hòa quyện: người 'hướng' đến trăng và trăng 'tòng' theo người. Điều này thể hiện sự kết nối mãnh liệt giữa người và trăng, là sự gắn bó thân thiết của mối quan hệ từ lâu đã trở thành tình bạn (Bác với trăng). Không chỉ vậy, Bác sử dụng từ 'tòng' rất 'quý giá'. 'Tòng' có nghĩa là 'theo' (giống như 'Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử'). Trăng muôn đời là giấc mơ của các thi nhân, đại diện cho cái đẹp, cái hoàn mĩ, cái thanh cao. Nhưng giờ đây, trăng 'tòng' theo khe cửa nhà tù hẹp hòi, ngột ngạt để 'khán' thi gia chắc chắn người thơ ấy phải thanh cao, đẹp đẽ đến mức tuyệt vời.
Câu thơ không chỉ làm nổi bật mối quan hệ tri kỉ giữa người và trăng mà còn khẳng định vẻ đẹp tâm hồn của người tù cách mạng Hồ Chí Minh.
Phân tích những nét đặc sắc nghệ thuật ở hai câu thơ cuối bài thơ Vọng nguyệt là một chủ đề hấp dẫn trong lịch trình học Ngữ Văn 8. Để hỗ trợ việc nắm vững kiến thức này, các em có thể tham khảo phân tích bài thơ Vọng nguyệt cùng với phần đánh giá vẻ đẹp trong bài thơ Ngắm trăng để hiểu rõ hơn về môn Ngữ Văn 8.
Mẫu số 2: Phân tích những nét đặc sắc nghệ thuật ở hai câu thơ cuối bài thơ Vọng nguyệt
'Người nhìn trăng chiếu qua cửa sổ,
Trăng ngoắm khe cửa soi nhà thơ'.
Khung cảnh thưởng trăng ở đây đặc biệt đáng chú ý. Nó đặc biệt trong sự giản dị, không có sự rước lễ với rượu và hoa. Điều đặc biệt ở vị trí của người nhìn trăng không phải là người thanh nhàn, không phải là một tao nhân tự do mà là một người tù bị giam giữ, xiềng xích trong bốn bức tường với muôn vàn khổ cực. Tuy nhiên, tâm hồn của người tù đã vượt lên trên bốn bức tường của nhà tù để mở rộng lòng mình đón chào chân thành và thân thiết với người bạn đặc biệt của mình. Tất cả đều được gói gọn trong một hành động đơn giản của việc nhìn, ngắm kì lạ; quan sát qua chấn song sắt của nhà tù. Hai câu thơ bằng chữ Hán đã diễn đạt đầy đủ hình ảnh cảnh thưởng trăng đặc biệt này:
'Hướng nhìn trăng soi sáng qua cửa sổ,
Trăng rọi khe cửa ngắm nhà thơ'.
Chữ đầu của hai câu thơ là hình ảnh của người và trăng (Hướng - trăng, trăng - nhà thơ) và ở giữa hai vế của mỗi câu, giữa trăng và người tù là song sắt nhà giam tàn nhẫn. Sự tàn nhẫn thực tế của nhà tù vẫn xâm nhập vào cuộc sống tinh thần của người tù. Đó như là một nỗ lực để ngăn cách người tù và trăng. Tất cả tạo nên một bức tranh rõ ràng, sống động về cuộc sống trong tù và làm cho cảnh thưởng trăng trở nên hết sức thực tế. Tại đây, người tù một lần nữa vượt lên và chiến thắng hiện thực đau đớn của cuộc sống tù đày. Người tù đã quên đi khổ cực của cuộc sống trong tù để tâm hồn mình bay bổng, hòa mình vào vẻ đẹp của ánh trăng. Động từ 'hướng' không chỉ là một cử động của ánh mắt mà còn là sự thức dậy của cả một tâm hồn đầy say mê. Dường như trăng đã hiểu tâm hồn của người tù, hiểu tình cảm chân thành của họ nên cũng có một hành động đầy tình cảm:
'Trăng theo dõi cùng hòa mình vào việc khám phá tâm hồn thi sĩ'.
Ánh trăng xâm nhập vào nhà tù để nhìn lại, chia sẻ với người tù. Ánh trăng như một cặp mắt, như khuôn mặt của con người, có tâm hồn, có tình cảm và tràn đầy sự đồng cảm. Trăng không chỉ là vật thể thiên nhiên, là vẻ đẹp chỉ để thưởng thức mà ở đây, trăng trở thành người bạn đồng hành, tri kỉ của người tù. Hành động của trăng là hành động của những người bạn đã thấu hiểu tâm hồn của nhau. Trăng nhìn người, người nhìn trăng. Và khoảnh khắc giao cảm thiêng liêng đó khiến mọi đau khổ, gian truân, bóng tối của cuộc sống tù bin tan biến. Tâm hồn con người nhẹ nhàng, thăng hoa, khiến tù nhân chốc lát trở thành những thi nhân. Chữ 'nhân' trong câu thơ thứ ba Bác sử dụng để chỉ người ngắm trăng, nhưng đến chữ cuối cùng của bài thơ, người ngắm trăng đã biến thành thi nhân. Điều đặc biệt, bài thơ Ngắm trăng là một trong những bài thơ ít ỏi mà Bác tự nhận mình là thi nhân. Cuộc sống trong tù không có nhân đạo. Nhưng đằng sau đó, không chỉ đơn giản là một trái tim biết cảm nhận trước vẻ đẹp vĩnh cửu của thiên nhiên, mà còn là một tâm hồn mạnh mẽ, đầy sức sống, dám vượt lên trên hiện thực trần trụi của nhà tù để hòa mình vào với thiên nhiên, đất trời. Nếu không phải là một tâm hồn nghệ sĩ, không phải là bản lĩnh thép của một người lính kiên cường, Bác không thể vượt lên trên bản thân mình trong tình cảnh đó.
Ngắm trăng là một tác phẩm thơ tinh tế, là biểu hiện của vẻ đẹp cổ điển và lãng mạn. Trải nghiệm thơ Ngắm trăng, Bác Hồ không chỉ là sự hiểu biết về vẻ đẹp của trăng mà còn là sự mê đắm của một tâm hồn tràn đầy niềm yêu đời và khao khát tự do.
