Đề bài: Phân tích và minh họa Nguyễn Khoa Điềm đã sử dụng một thế giới của ca dao thần thoại để thể hiện tư tưởng đất nước của nhân dân
Phân tích và minh họa Nguyễn Khoa Điềm đã sử dụng một thế giới của ca dao thần thoại để thể hiện tư tưởng đất nước của nhân dân
Bí Quyết Phương Pháp Phân Tích Đoạn Văn, Đoạn Thơ Xuất Sắc
Bài Viết
Đất Nước - những âm thanh thiêng liêng đó vang lên sâu sắc trong tâm hồn chúng ta, vừa trang trọng và tinh tế, vừa gần gũi và ấm áp. Hình tượng Đất Nước là nguồn cảm hứng của vô số tác phẩm nghệ thuật, là nguồn cảm xúc cho những tâm hồn sáng tạo. Văn học thời kỳ kháng chiến 1945 - 1975 không chỉ ghi lại những giai điệu sôi động của thời đại mà còn đi vào lòng người bằng những tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời về Đất Nước, tô điểm cho bức tranh văn hóa đậm đà, tình cảm và dịu dàng của quê hương Kinh Bắc trong thơ Hoàng Cầm; Đất Nước tràn ngập vẻ đẹp và nỗi đau trong những dòng thơ khỏe khoắn 'rũ bùn đứng dậy sáng lòa' của Nguyễn Đình Thi.
Từ chiến trường Bình Trị Thiên đến khát vọng cao cả của Mặt Đường, Nguyễn Khoa Điềm đã sáng tác những bản hùng ca nồng nàn, là tiếng hát của tuổi trẻ xuất hiện trên con đường đòi hỏi tranh đấu. Những bài thơ đắng cay vẽ lên hình ảnh Đất Nước như những nốt nhạc tươi sáng nhất, làm xao lạc trái tim người đọc, được thể hiện qua góc nhìn mới đầy sáng tạo của nhà thơ. Qua Đất Nước, tư tưởng 'Đất Nước của nhân dân' hòa quyện trong hình thức 'Đất Nước của ca dao thần thoại' như một sợi chỉ đỏ tạo nên dòng chảy sâu sắc và chân thành của tình cảm nhà thơ.
Nhẹ nhàng như chuyện cổ tích, ánh trăng kỳ ảo bừng tỏ trong thế giới 'ngày xưa xưa kia', hồn mềm mại của mẹ trong những lời ru ấm áp... tất cả thấm vào tâm hồn mỗi người. Nước mắt yêu thương của mẹ làm tươi mới hồn ta, gieo mầm hạt giống tốt lành, nảy mầm và phát triển trong cuộc sống. Thế giới tuổi thơ, nơi trí tưởng tượng bay bổng, là kì quan gắn bó như hơi thở, máu thịt nuôi dưỡng tâm hồn. Tình yêu quê hương, đất nước, từ vòng nôi của mẹ, hiện hình trong ta từ tiềm thức... Văn học dân gian, đặc biệt là ca dao thần thoại, là linh hồn dân tộc. Nó là bản nền văn hóa trong sáng nhất, đầy sức sống và thể hiện rõ điệu hồn dân tộc - giọng điệu hồn hậu, tươi duyên và đằm thắm, không ai khác ngoài nhân dân - những người lao động - tập thể những người sáng tạo nên văn hóa dân gian phong phú. Bằng xúc động của một hồn thơ nảy nở từ dòng sữa dân gian phong phú, với sự cảm nhận sâu sắc của một thanh niên trí tuệ, Nguyễn Khoa Điềm, trong cuộc đấu tranh sôi nổi của nhân dân dưới mưa bom bão, trở về với nguồn gốc 'ca dao, thần thoại' để làm sáng tư tưởng 'Đất Nước của nhân dân', độc đáo và mới mẻ, thể hiện cái nhìn toàn diện, chính xác, có chiều sâu của nhà thơ về đất nước, về nhân dân. Tư tưởng ấy thấm nhuần từ cảm xúc đến chi tiết nghệ thuật bài thơ. Suốt đoạn trích, ta bắt gặp một thế giới vừa gần gũi, thân quen, vừa kì diệu sâu xa, hồn đất nước mở rộ trong từng từ ngữ. Và chương V của Mặt đường khát vọng được bao bọc bởi bầu không khí văn hóa dân gian gắn bó với mỗi tâm hồn, trong đó âm hưởng 'đất nước của nhân dân' là nốt nhạc chủ đạo ngân nga suốt bản đàn 'đất nước'.
Lớn lên, Đất Nước đã có rồi
Đất nước ẩn hiện trong những câu chuyện 'ngày xưa xưa kia'... mẹ thường kể
Đất Nước bắt đầu từ miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước phồn thịnh khi dân mình biết trồng tre để đánh giặc
Những câu thơ đầu tiên của đoạn trích, tự nhiên và sâu lắng, truyền đạt điều giản dị và thiêng liêng. Thế giới cổ tích, truyền thuyết hiện lên trong tâm hồn đọc giả: câu chuyện
Trầu Cau với tình người mộc mạc, trung thành, biểu tượng của tình yêu của dân tộc; sự kể chuyện về Thánh Gióng như bản ca hùng biện, tự hào, biểu tượng sức mạnh đặc biệt của người Việt từ lúc đất nước mới khôi phục và giữ gìn. Hơi thở dẫn dụ, trầm lắng như tiếng lòng của đất nước dội về từ xa xưa, đánh thức bức tranh về quá trình hình thành và tồn tại của đất nước. Nếu trong cổ tích, truyền thuyết, nhân dân xuất hiện như những nhân vật quen thuộc như Cô Tấm, Thạch Sanh... hay hiện thân qua hình ảnh Thánh Gióng, Sọ Dừa, thì trên trang thơ của Nguyễn Khoa Điềm, nhân dân trở nên gần gũi qua hình ảnh của bà, của mẹ, của 'dân mình'. Còn đất nước, không phải là hình người khổng lồ xa lạ, hay là một khái niệm trừu tượng mà là những điều giản dị, thân thiết trong cuộc sống hàng ngày của từng người. Đất nước hiện hình từ câu chuyện cổ tích của mẹ, miếng trầu của bà đến cái kèo, cái cột trong nhà, hạt gạo ta ăn hàng ngày. Tất cả những vật thân quen, bình dị ấy trong đời sống vật chất, cùng với những phong tục tập quán trong đời sống tinh thần của nhân dân: ăn trầu, trồng tre, búi tóc sau đầu, cách đặt tên người..., và cả tình yêu của con người ('cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn') đều làm nên khuôn mặt dân tộc - một dân tộc nghĩa tình, đằm thắm như trong câu ca dao gợi lên trong ta:
Tay nâng chén muối, đĩa gừng
Muối mặn, gừng cay, xin đừng quên nhau
Dân dụ, tâm linh dân tộc tràn ngập từng từng chữ. Đất nước mọc nảy từ những điều hằng ngày quen thuộc, là những nền tảng vững chắc tồn tại từ thời xa xưa trong đời sống cộng đồng; từ những tập tục lâu đời như vết tích không có hồi kết, là sự kế thừa thiêng liêng, truyền đạt qua các thế hệ. Đó là chiều sâu văn hóa - lịch sử của quê hương hiện hữu ngay trong cuộc sống hằng ngày của nhân dân. Bằng những hình ảnh cụ thể, sống động và đầy cảm hứng, Nguyễn Khoa Điềm đã đặt ra một định nghĩa mới, độc đáo về đất nước. Những câu thơ mở đầu như những bước nhảy tinh tế đưa độc giả bước vào thế giới nghệ thuật của đoạn thơ, vừa quen thuộc, vừa huyền bí, diệu kỳ như những chuyện từ quá khứ xa xưa.
Không chỉ vậy, đất nước trong thơ của Nguyễn Khoa Điềm còn là ký ức riêng tư của từng người, trở thành máu chảy trong từng người. Tách biệt Đất và Nước thành hai yếu tố, nhà thơ phản ánh mối liên kết của Đất Nước với thời gian và không gian, lịch sử và hiện tại. Đất Nước là mảnh đất quen thuộc, liên kết với từng cá thể con người:
Đất là chỗ anh học tập
Nước là nơi em tắm mình.
Đất Nước là vùng đất rộng lớn, hòa mình trong núi sông rừng biển bao la, là không gian nuôi dưỡng và phát triển bao thế hệ con người Việt. Đặc biệt, Đất Nước mang theo một tình yêu thiêng liêng, là chứng nhân lưu giữ ký ức:
Nơi ta hẹn hò là Đất Nước
Em đánh rơi chiếc khăn, nơi niềm nhớ thầm lặng.
Những dòng thơ thể hiện tài năng văn chương, sự tinh tế của nhà thơ. Ta cảm nhận như đang nghe điệu ca dao 'khăn thương nhớ ai' lồng ghép trong bài thơ. Kí ức đẹp đẽ, cảm xúc của tình yêu hiện lên tươi sáng, lung linh trong từng câu thơ, ẩn chứa những xao xuyến, bồi hồi của 'thời kỳ ban đầu lưu luyến ấy'. Điều này làm nổi bật ấn tượng về sự kết nối sâu sắc với từng cá nhân và quê hương.
Những câu thơ sau tiếp tục lưu đậm tâm hồn dân dụ nhờ vào cách linh hoạt sử dụng và chọn lọc nguồn gốc văn hóa dân gian:
Đất là lãnh thổ của 'chim phượng hoàng vút lên trời'
Nước là vùng biển rộng, 'cá ngư ông chinh phục sóng khơi'
Dọc theo dòng suy tưởng, tác giả tiếp tục cảm nhận đất nước trong chiều sâu lịch sử, từ huyền thoại của Lạc Long Quân và Âu Cơ 'sinh nở đồng bào trong chiếc trứng', truyền thuyết về Hùng Vương và ngày giỗ tổ. Những dòng thơ đậm chất cảm xúc, trang trọng khi hướng về gốc nguồn cha ông. Những giá trị truyền thống, nét văn hóa sâu sắc đó là dòng chảy từ quá khứ, nối liền hiện tại và tương lai:
Những hồn đã ra đi
Những hồn hiện tại
Yêu thương và sinh sôi
Dặn dò con cháu về câu chuyện mai sau
Mỗi năm, nơi đâu, làm gì
Luôn nhớ đến ngày giỗ tổ.
Cảm nhận về đất nước, Nguyễn Khoa Điềm khám phá mối liên kết giữa con người và đất nước, tạo nên một sự 'hài hòa, nồng thắm':
Trong ta và anh, đất nước hôm nay là một phần không thể thiếu
Một 'Đất Nước của truyền thuyết' nhấn chìm trong trái tim từ thuở non nớt, một 'Đất Nước của Nhân dân' liên kết mật thiết, thiêng liêng trong cuộc sống hàng ngày, đất nước đã hiện hữu trong hơi thở, trong máu thịt mỗi người. Những dòng thơ chuyển từ tư duy cá nhân, hướng ngoại để đặt ra trách nhiệm của mỗi người đối với đất nước.
Em ơi! Đất Nước là máu xương, là bản ngã của ta
Hãy gắn bó và chia sẻ.
Hãy hiện thân cho hình ảnh xứ sở quê hương
Tạo nên hồn Đất Nước trường tồn. Là lệnh mệnh, nhưng câu thơ truyền đạt với tình cảm mãnh liệt, từ trái tim, sâu sắc hiểu biết về đất nước. Với ngôn từ cuốn hút, điệu thơ mạnh mẽ, đánh thức tâm hồn và trí óc. Mỗi con người mang theo máu thịt đất nước cần phải bảo vệ, giữ gìn đất nước, thậm chí hy sinh vì đất nước khi nguy cơ đe dọa, để mảnh đất luôn màu mỡ, xanh tươi như khúc hát tự do của người con gái trong bài thơ.
Quê hương Giang Nam: 'Hôm nay yêu quê hương vì mỗi nắm đất là phần xương thịt của em tôi'. Trong bối cảnh đất nước đang chịu đựng dưới tác động của chiến tranh, những đoạn thơ của Nguyễn Khoa Điềm đầy sức mạnh, làm động lòng, khơi dậy ngọn lửa tình yêu, chiến đấu, hy sinh vì trách nhiệm với đất nước. Những câu thơ nói về chính trị không khô khan vì chúng 'phát sinh từ tâm hồn,'' thấm đẫm cảm xúc sôi động và kể lên về những giá trị thiêng liêng của đất nước.
Suốt bài thơ, ánh sáng trí tuệ của tác giả làm cho tư tưởng 'đất nước của nhân dân' rực rỡ hơn bao giờ hết. Đất nước được nhìn nhận từ góc độ địa lý, lịch sử và văn hóa trở nên trang trọng, quyến rũ.
Những câu thơ như mở rộng vô tận, bao quát cảnh đẹp thiên nhiên đất nước từ Bắc xuống Nam, từ biển lên rừng. Đôi mắt của thi nhân như muốn ôm lấy những hình ảnh tuyệt vời, kỳ diệu của non sông:
Những người phụ nữ nhớ về người chồng đều làm đóng góp cho vẻ đẹp của Đất Nước như những ngọn núi ở Vọng Phu
Cặp đôi yêu nhau tạo ra hòn đá Trống Mái
Vết của Thánh Gióng đi qua để lại trăm ao đầm
Chín mươi chín con voi đóng góp vào việc xây dựng đất Tổ Hùng Vương
Các con rồng đậu yên tạo nên dòng sông mát mẻ
Những học sinh nghèo đóng góp cho đất nước những ngọn núi Bút, non Nghiên
Con cóc, con gà quê hương cũng đóng góp vào việc tạo ra Hạ Long hùng vĩ
Những người dân góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm.
Văn hóa dân gian rực rỡ trên mỗi trang thơ, với những phát hiện mới, sâu sắc và tinh tế của nhà thơ. Các yếu tố dân gian như cổ tích, truyền thuyết... từ câu chuyện núi Vọng Phu đến hòn Trống Mái, từ câu chuyện của Thánh Gióng đến truyền thuyết về chín mươi chín con voi quanh đất Tổ Hùng Vương, từ những câu chuyện về núi Bút, non Nghiên, đến cảnh đẹp Hạ Long hay các địa danh ở Nam Bộ... mỗi danh lam thắng cảnh tươi đẹp của đất nước liên quan đến một câu chuyện cổ tích riêng, tạo ra một thế giới cổ tích huyền bí. Nhưng có vẻ điều quan trọng hơn, và là tài năng của tác giả, đó là cái nhìn 'đất nước của nhân dân'. Do đó, mỗi cảnh đẹp tự nhiên của đất nước đều mang dấu ấn của hình ảnh con người: những người phụ nữ nhớ về người chồng, cặp đôi yêu nhau, học sinh nghèo, và những người dân,... cũng như những con vật gần gũi của cuộc sống con người (con cóc, con gà quê hương) cũng đóng góp vào vẻ đẹp của hình ảnh của đất nước, nhân dân không chỉ bằng cách họ sống, hình thành các truyền thuyết, mà còn bằng cách họ tạo ra các danh lam thắng cảnh tuyệt vời, mang theo tâm hồn thiêng liêng của núi sông, của dân tộc. Thiên nhiên của đất nước hiện lên chính là một phần của máu thịt và tâm hồn của nhân dân. Từ đó, tác giả tổng quan, nâng lên như một tư duy phong cách triết học:
Và ở khắp mọi nơi trên ruộng đồng và quê hương
Chẳng có một dáng hình, một cái ao, một lối sống nào mà không được truyền đạt qua ông bà ta.
Ôi, Đất Nước sau bốn nghìn năm, ta nhìn thấy nó ở khắp mọi nơi
Những cuộc sống đã trở thành núi sông của chúng ta.
Bước qua lịch sử dày đặc, nhìn xa về bốn nghìn năm quá khứ của Đất Nước, lịch sử hùng vĩ như bừng tỉnh. Ca dao xưa kể về tình cảm quê hương qua những chi tiết đơn giản của bữa ăn nồng ấm và hình ảnh dáng dấp dãi sương nắng.
Anh đi nhớ về quê nhà
Nhớ mùi rau muống, nhớ hình bóng cà dầm tương
Nhớ người dãi nắng, dầm sương
Nhớ người tát nước bên đường ngày nào
Nhìn lại lịch sử lâu dài của đất nước, chúng ta thường ghi chép về các triều đại, ca ngợi những anh hùng xuất hiện trong trang sử huyền bí của dân tộc.
Những cảm nhận về 'Đất Nước của Nhân dân' như sợi chỉ đỏ liên kết, kiểm soát cái nhìn lịch sử của nhà thơ. Nhân dân là người sáng tạo nên đất nước, chiến đấu để bảo vệ đất nước. Những tục ngữ như 'nuôi cái cùng con', 'giặc đến nhà đàn bà cũng đánh' mang lại sự hòa quyện, gợi cảm cho lời thơ. Nét độc đáo của bản hòa ca ca ngợi nhân dân chính là điểm sáng trong phẩm chất vĩ đại của nhân dân:
Họ đã trải qua cuộc sống và giã biệt
Giản dị và an nhiên
Không ai ghi nhớ khuôn mặt và đặt tên
Nhưng họ đã tạo nên Đất Nước.
Nhân dân trong tư duy của Nguyễn Khoa Điềm, là một tập thể anh hùng vô danh. Họ sống giản dị, chết thanh thản, chiến đấu không phải để lọt vào sách lịch sử mà vì một lý tưởng cao cả, bình dị: bảo vệ đất nước. Câu thơ ngắn, súc tích nhưng đậm đà cảm xúc tác phẩm, chứa đựng biết bao xúc động trước những hy sinh im lặng, đóng góp lớn của những con người giản dị, hiền lành.
Với góc nhìn đầy phát hiện, tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của nhân dân. Nhân dân, với máu và xương của họ, đã chiến đấu để bảo vệ và giữ gìn đất nước, họ là những anh hùng trên chiến trường. Nhân dân, qua công việc sáng tạo, xây dựng và bảo tồn đất nước, gìn giữ và truyền đạt giá trị văn hóa, phẩm chất tinh thần cho thế hệ Việt Nam: từ những hạt lúa và nền văn hóa nông nghiệp, đến những giá trị tinh thần như truyền thống, ngôn ngữ gia đình, tên xã, tên làng... Họ là những anh hùng văn hóa. Nhân dân đã truyền bá qua nhiều thế hệ những giá trị cao quý được tóm gọn trong câu ca dao, tục ngữ, đi vào trái tim mọi người. Đó chính là nguồn gốc của mọi tình cảm đẹp, tình yêu thương, hiện hữu trong câu ca dao hóm hỉnh:
Yêu em từ thuở còn in đậm trong nôi
Em khóc, anh ngồi ru dỗ
Đó là sự trân trọng của lao động:
Mang vàng vượt qua dòng sông
Vàng rơi không là tiếc, tiếc là công sức vượt sông
Đó chính là tinh thần mạnh mẽ không khuất phục và lòng căm hận thù nghịch sâu sắc:
Thù này còn lâu dài
Trồng tre thành gậy, gặp đâu đánh què
Bằng cách sử dụng một cách linh hoạt và sáng tạo chất liệu từ ca dao của văn hóa dân gian, dường như có sự hòa mình và gặp gỡ trong tâm hồn của cha ông từ thế kỷ trước và thế hệ hiện tại. Để hiểu sâu, trân trọng giá trị văn hóa dân tộc, tác giả mới có cái nhìn sâu sắc, mới lạ về quan niệm 'Đất Nước của Nhân dân'.
Cảm hứng thơ trào phúng đỉnh điểm, làn sóng nổi lên đưa đến điểm chói lọi của quan điểm về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm.
Làm cho Đất Nước trở thành tổ quốc của Nhân dân
Đất Nước của Nhân dân, quê hương của ca dao thần thoại.
Kết thúc bằng hình ảnh dòng sông truyền nước từ xa tắm rửa tâm hồn và vẻ đẹp của thiên nhiên, con người Việt 'đánh thức vô số màu sắc trên những con sông uốn lượn'. Có lẽ đó chính là dòng sông của truyền thống lịch sử, chảy từ thiên niên kỷ trước, đưa đến phù sa bồi đắp tâm hồn qua hàng ngàn thế hệ? Và những dòng thơ cuối cùng đánh thức cảm xúc với từng câu chuyện chân thành từ trái tim thi sĩ: 'Ta xúc động trước đất nước Việt Nam ơi!'. Cảm xúc 'xúc động' này rất quý báu, đáng trân trọng, là kết tinh của những tình cảm mạnh mẽ và những suy tư, trải nghiệm sâu sắc về đất nước, về vai trò quan trọng và vẻ đẹp cao quý của nhân dân, là tiếng lòng chân thành của mọi thế hệ hướng về nguồn cội dân tộc, về truyền thống văn hóa và lịch sử bền vững mà nhân dân là những người sáng tạo, bảo tồn và kế thừa cho con cháu.
Đất Nước có thể được coi là một tác phẩm thơ tự do của Nguyễn Khoa Điềm, trong đó tác giả không chỉ viết dựa trên cảm xúc mà còn sử dụng văn học dân gian rất hiểu biết và phong phú, với điểm tập trung là văn hóa dân gian. Đoạn trích được xây dựng với cấu trúc lôgic, với chất 'tư duy lôgic' có thể khiến thơ trở nên mất đi chất 'tươi mới và sống động', cảm giác khô khan, chỉ tác động vào trí óc. Hơn nữa, kiến thức tổng hợp phong phú làm cho thơ dễ dàng rơi vào tình trạng thiếu hứng thú, khô cứng như một bài diễn thuyết xã hội. Nhưng không phải vậy! Viết về đất nước, về nguồn cảm hứng lớn của thi ca nói chung và thơ cách mạng nói riêng, Nguyễn Khoa Điềm đã lựa chọn những chất liệu văn hóa dân tộc, đưa vào ngôn ngữ thơ những chi tiết gần gũi, phổ biến, không chỉ quen thuộc trong nhận thức mà còn có khả năng chạm vào tâm hồn người đọc và dễ dàng gắn bó với họ qua ngôn ngữ dân gian đậm chất hồn nhiên, tinh tế. Việc sử dụng sâu rộng và linh hoạt chất liệu văn học dân gian tạo ra một thế giới thơ đậm đà, liên kết với máu thịt tâm hồn của người đọc và dễ dàng đi vào lòng người với ngôn ngữ dân gian tình cảm, tràn đầy sức sống. Chính sự sáng tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ này tạo ra sắc thái thẩm mỹ và không khí riêng biệt cho đoạn thơ, đồng thời thể hiện rõ tư tưởng 'Đất Nước của Nhân dân' bởi nhân dân là những người đã sáng tạo ra nền văn hóa dân tộc phong phú, thân thuộc với mỗi người Việt.
Ngoài ra, cảm xúc chân thành và mãnh liệt của nhà thơ tạo nên sự say đắm, đồng thời với nhiều thanh âm lúc nồng nàn say mê, lúc trầm lắng như lời trò chuyện, chia sẻ về những nhận thức, cảm xúc về đất nước, nhân dân. Mỗi chi tiết, hình ảnh đều phản ánh đúng tâm trạng của nhà thơ, khi thì là cảm xúc cá nhân, lúc lại chứa đựng những cảm nhận như một mảng kí ức, một kỉ niệm. Sự kết hợp tài tình giữa chất trữ tình và giọng chính luận mang đến cho đoạn thơ một vẻ đẹp độc đáo, thơ không xa lạ mà lại sâu sắc với giọng điệu chân thành và cảm xúc mạnh mẽ. Chúng ta được trải nghiệm chính bản thân một nhà thơ - chiến sĩ lăn mình trong bức khói chiến tranh, với tư duy rộng lớn và tình yêu thương sâu sắc đối với đất nước, trân trọng, tôn vinh nhân dân đã tỏa sáng bằng tâm hồn thi nhân.
Trong thơ ca chống Mỹ, Nguyễn Khoa Điềm không chỉ kế thừa tinh thần yêu nước từ thời kỳ trước và đặc biệt là thơ chống Pháp, mà còn mang đến độ sâu, tầm quan trọng cho nguồn cảm hứng vô tận này. Tư tưởng 'Đất Nước của Nhân dân' của ông đưa vào thơ chống Mỹ không chỉ là sự lưu giữ văn hóa và lịch sử của đất nước, mà còn chứa đựng triết lý văn hóa dân gian, kết nối quá khứ và hiện tại một cách độc đáo, huyền bí, và tinh tế. Đây chính là phần trích xuất, sâu sắc nhất trong tác phẩm Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm.
Văn học chống Mỹ cũng chứng kiến những tình cảm sâu sắc đối với nhân dân, đặt nền móng cho tình yêu nước: Nguyễn Duy truyền đạt ý nghĩa về nhân dân qua Hơi ấm ổ rơm - biểu tượng của Tre Việt Nam, trong khi Thanh Thảo trong bài thơ Những người đi tới biển thể hiện sự xúc động nhất về nhân dân trong những dòng thơ tuyệt vời:
Và như vậy nhân dân thường im lặng
Như mẹ tôi âm thầm suốt cuộc đời
Và như vậy nhân dân vẫn yêu thương vô biên
Chẳng kém cả những ngôi sao lẻ loi giữa bầu trời
Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm, với bản nhạc 'Đất Nước của thần thoại,' truyền đạt tư tưởng 'Đất Nước của Nhân dân' một cách đặc sắc, tạo ra âm nhạc độc đáo trong tác phẩm thơ chiến tranh. Nó thể hiện tâm hồn của thi sĩ trước vẻ đẹp văn hóa dân tộc, và ý nghĩa này vẫn còn sống động và quý giá ngày nay, vì nhiệm vụ 'hiện thân cho hình ảnh đất nước' vẫn là mối quan tâm của thơ và cuộc sống.
