Tiêu đề: Phát biểu về ba bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng
Mẫu bài phát biểu về ba bài thơ Tây Tiến
Khám phá:
Tây Tiến, một bản tình ca của chiến trường
Năm 1948, tại bến sông Đáy, Quang Dũng sáng tác bài thơ này
Tây Tiến, biểu tượng của lòng dũng cảm và tình đồng đội
Đoàn Binh Tây Tiến: Hành Trình Về Quê
Tây Tiến - Biểu Tượng Trái Tim Chiến Tranh
Hình ảnh của Chiến Binh Vô Danh
Dũng Khí và Chí Phát Ngôn
Nỗi Nhớ và Giấc Mơ Trong Chiến Trường
Hà Nội Trong Giấc Mơ
Mơ Về Quê Hương Trong Lửa Đạn
Nỗi Nhớ và Mơ Mộng của Chiến Binh
Gợi Nhớ Quê Hương Trong Chiến Trường
Tâm Hồn Chiến Binh Tây Tiến
Chân Dung Người Lính
Hành Trình Trên Chiến Trường
Trong gian khổ và chiến trận, bao đồng đội đã ngã xuông trên chiến trường miền Tây. Họ nằm lại nơi chân đèo góc núi. Nấm mồ người chiến sĩ "rải rác biên cương". Câu thơ để lại trong lòng ta nhiều thương cảm, biết ơn, tự hào: "Rải rác biên cương mồ viễn xứ". Nếu tách câu thơ trên ra khỏi đoạn thơ thì nó tựa như bức tranh xám lạnh, ảm đạm và hiu hắt, đem đến nhiều xót thương. Nhưng nằm trong văn cảnh, đoạn mạch, câu thơ tiếp theo: Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh", đã nâng cao chí khi và tầm vóc người lính. Các anh đã ra trận vì một lí tưởng rất đẹp. "Đời xanh' là : trai trẻ, là tuổi thanh xuân của "Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng..." những học sinh, sinh viên Hà Nội. Họ lên đường đầu quân vì nghĩa lớn của chí khí làm trai. Họ "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Câu thơ "Chiến truờng đi chẳng tiếc đời xanh" vang lên như một lời thề thiêng liêng, cao cả. Các anh quyết đem xương máu để bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc. Anh bộ đội cũng như nhân dân ta đã đứng lên kháng chiến với quyết tâm sắt đá : " Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu làm nô lệ". Quang Dũng ghi lại cảnh bi tráng giữa chiến trường miền Tây thuở ấy:
Áo bào thay chiếu anh vế đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
Các tráng sĩ ngày xưa giữa chốn sa trường lấy da ngựa bọc thây làm niềm kiêu hãnh. Các chiến sĩ Tây Tiến với chiếc chiếu đơn sơ, với tấm "áo bào" bình dị ấy: "anh về đất". Một cái chết nhẹ nhàng, thanh thản. Anh ra trận giết giặc vì quê hương. Anh ngã xuống là: "về đất", nằm trong lòng Mẹ Tổ quốc thân yêu. Nhà thơ không dùng từ "chết", từ "hy sinh" mà lấy cụm từ "về đất" để ca ngợi sự hi sinh cao cả mà bình dị, thầm lặng mà thanh thản, nhẹ nhàng coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Người chiến binh Tây Tiến đã sống và chiến đấu cho quê hương, đã chết vì đất nước quê hương. "Anh về đất" bằng tất cả tấm lòng chung thủy của người chiến sĩ. Tiếng thác sông Mã "gầm lên" giữa núi rừng miền Tây như tiếng kèn trong bài "Chiêu hồn liệt sĩ" tống tiễn linh hồn liệt sĩ về nơi an giấc ngàn thu. Câu "Sông Mã gầm lên khúc độc hành" là một câu thơ hay vì gợi tả được không khí thiêng liêng, trang trọng, đồng thời tạo nên âm điệu trầm hùng, thương tiếc. Phong cách ngôn ngữ của Quang Dũng rất đặc sắc, bên cạnh những từ ngữ bình dị đời lính như: gục, không mọc tóc, dữ, trừng, về đất, chiếu, gầm lên... lại có một số từ Hán Việt như: mộng, mơ, biên giới, dáng kiều, biên cương, viễn xứ, áo bào, khúc độc hành - nhờ đó mà cái bình dị làm nổi bật cái cao cả thiêng liêng, cái bình thường tô đậm cái anh hùng, vĩ đại. Chất bi tráng và màu sắc lãng mạn từ vần thơ tỏa rộng trong không gian và chiều dài lịch sử.
Đoạn thơ viết về chân dung người lính trong bài thơ Tây Tiến là đoạn thơ độc đáo nhất. Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn được nhà thơ kết hợp vận dụng sáng tạo trong miêu tả và biểu lộ cảm xúc, tạo nên những câu thơ "có hồn". Người lính đã sống anh dũng, chết vẻ vang. Hình tượng người chiến sĩ Tây Tiến mãi mãi là một tượng đài nghệ thuật bi tráng in sâu vào tâm hồn dân tộc.
""""""KHÔNG CÒN GÌ NỮA""""""-
Vì thế, chúng tôi đề xuất Bình luận về ba khổ thơ cuối cùng của Tây Tiến tiếp theo, các bạn hãy chuẩn bị cho phần Mô tả vẻ đẹp tự nhiên trong 8 câu đầu của Tây Tiến cùng với việc Phân tích 8 câu đầu của Tây Tiến để hiểu rõ hơn về tình huống này.
