Đây là một loài khủng long sống trên cạn, được phát hiện trên đảo Isle of Wight (Đảo Wight), chúng săn mồi bằng hai chân, có khuôn mặt giống với loài cá sấu và có thể dài tới hơn 10 mét.

Các nhà sinh vật học cổ tại Đại học Southampton đã xác định được phần hóa thạch còn lại của một loài động vật ăn thịt lớn, dài hơn 32ft (10m) và sống cách đây khoảng 125 triệu năm.
Những bộ xương thời tiền sử thuộc về loài khủng long spinosaurid hai chân, mặt giống cá sấu, và chúng là những kẻ săn mồi khổng lồ.
Nghiên cứu sinh Chris Barker, trưởng nhóm nghiên cứu, cho biết đây là một 'sinh vật khổng lồ'.
Phần còn lại, bao gồm đốt sống lưng và xương chậu, được phát hiện trên bờ biển phía tây nam của Đảo Wight.
Loài động vật ăn thịt này được biết đến với tên gọi 'spinosaurid đá trắng' - được đặt theo tên của lớp địa chất mà các nhà khảo cổ đã khám phá ra hóa thạch của chúng.

Spinosauridae (hay còn gọi là spinosaurid) là một nhóm hoặc họ của loài khủng long chân thú bao gồm từ mười đến mười bốn chi đã được biết đến. Chúng nổi bật trong thời kỳ kỷ Phấn trắng. Các mẫu hóa thạch của Spinosaurid được tìm thấy trên khắp thế giới, bao gồm Châu Phi, Châu Âu, Nam Mỹ và Châu Á.
Barker nói: 'Đây là một sinh vật khổng lồ, có chiều dài hơn 10m và có thể nặng đến vài tấn'.
'Dựa vào kích thước này, nó dường như là một trong những loài khủng long ăn thịt lớn nhất từng được phát hiện ở Châu Âu - có thể là loài khủng long lớn nhất từng được biết đến trong khu vực này'.
Loài khủng long này có lẽ đã tồn tại vào đầu kỷ Phấn trắng, thời điểm mực nước biển cao. Chúng có thể sống ẩn nấp ở các vùng nước nông, đầm lầy và bãi cát để săn mồi.
Đồng tác giả của nghiên cứu, Darren Naish, nói: 'Vì hiện tại, mọi giả định về loài khủng long này chỉ dựa trên các mảnh vỡ hóa thạch ít ỏi, nên chúng tôi chưa đặt tên khoa học chính thức cho nó. Hy vọng rằng các phần hóa thạch còn lại sẽ được khám phá và nghiên cứu sớm nhất có thể'.

Spinosaurid là loài khủng long ăn thịt lớn hai chân. Hộp sọ của chúng khá giống với cá sấu với hình dạng dài, thấp và hẹp, đồng thời chúng cũng có những chiếc răng hình nón với răng cưa giảm hoặc không. Đầu của hàm trên và hàm dưới mở ra thành hình dạng thìa tương tự như hoa thị, phía sau có một rãnh ở hàm trên mà đầu mở rộng của hàm dưới vừa với. Lỗ mũi của spinosaurids được thu hẹp về phía trước trên đầu so với hầu hết các loài khủng long chân thú khác, và hầu hết chúng đều có mào xương trên đầu theo chiều dọc theo đường giữa hộp sọ. Ở nhiều loài, các gai thần kinh hướng lên trên của các đốt sống dài ra đáng kể và tạo thành một cánh buồm trên lưng con vật.
Hầu hết các hóa thạch của loài khủng long này được khám phá bởi Nick Chase - một thợ săn khủng long trên đảo Isle of Wight, tuy nhiên, anh đã qua đời trước khi đại dịch Covid bùng phát.
Jeremy Lockwood, một đồng tác giả khác của nghiên cứu và là nghiên cứu sinh tại Đại học Portsmouth và Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên, chia sẻ: 'Tôi và Nick đang săn lùng những mảnh hóa thạch của loài khủng long này. Thật may mắn, chúng tôi đã phát hiện một mảnh xương chậu có những vết ngấn sâu - lớn như ngón tay trỏ của tôi'.
'Chúng tôi nghi ngờ rằng chúng là do ấu trùng của loài bọ ăn xương tạo ra. Thật thú vị khi biết rằng kẻ săn mồi khổng lồ này lại trở thành thức ăn của nhiều loài côn trùng'.
Phát hiện này tiếp tục sau nghiên cứu trước đó về spinosaurids của nhóm nghiên cứu Đại học Southampton, trong đó đã công bố hai loài mới vào năm 2021.

Chi Spinosaurus là loài khủng long săn mồi trên cạn dài nhất được biết đến từ hồ sơ hóa thạch, với chiều dài ước tính lên đến 15 mét (49 ft). Bằng chứng hóa thạch và sự phát triển giải phẫu cho thấy spinosaurids là loài khủng long ăn thịt, nhưng cũng ăn cá và các loài khủng long và pterosaurs khác.
Spinosaurid là một họ khủng long theropoda. Thành viên của họ này là kẻ săn mồi có hộp sọ thon dài, răng hình nón giống cá sấu. Tên họ này được lấy từ tên chi điển hình, Spinosaurus, với cấu trúc giống cánh buồm nổi lên từ lưng con vật. Tính năng của 'cánh buồm' này vẫn gây tranh cãi, một số ý kiến phổ biến là để điều chỉnh nhiệt độ cơ thể, thể hiện sự đe dọa hoặc để thu hút trong mùa giao phối.
Hóa thạch của họ Spinosaurid được phát hiện ở Châu Phi, Châu Âu, Nam Mỹ, Châu Á và Châu Úc. Spinosaurid đầu tiên xuất hiện vào thời kỳ Jura muộn và trở nên phổ biến vào Creta sớm. Mẫu vật spinosaurid duy nhất được phát hiện ở Jura hậu là một chiếc răng duy nhất, khoảng 155 triệu năm trước.
Chiếc răng hình nón đầu tiên của spinosaurid được khai quật vào khoảng năm 1820 bởi nhà nghiên cứu cổ sinh vật học người Anh Gideon Mantell trong Hệ tầng đất sét Wadhurst. Năm 1841, nhà tự nhiên học Sir Richard Owen đã nhận nhầm nó là của một con cá sấu và đặt tên là Suchosaurus (nghĩa là 'thằn lằn cá sấu'). Mặc dù vậy, chiếc răng hóa thạch này vẫn không được công nhận cho đến khi Baryonyx được mô tả lại vào năm 1998.
Spinosaurid đầu tiên được gọi là spinosaurid được phát hiện vào năm 1912 tại Hệ tầng Bahariya ở Ai Cập. Bao gồm các đốt sống, mảnh sọ và răng, những phần còn lại này trở thành mẫu vật holotype của chi và loài mới Spinosaurus aegyptiacus vào năm 1915, khi chúng được nhà cổ sinh vật học người Đức Ernst Stromer mô tả.
Tên của loài khủng long này có nghĩa là 'thằn lằn gai cột sống Ai Cập' do chúng có gai thần kinh dài và đặc biệt không giống với bất kỳ loài khủng long khác.
