Cua nhện, cua khổng lồ, cua hoàng đế đã quá quen thuộc, nhưng loài cua này lại khác biệt hoàn toàn với bộ lông màu vàng phủ trên toàn thân.
Dù lông phục vụ nhiều mục đích trong thế giới động vật, nhưng các nhà khoa học mới đây phát hiện một loài cua hoàn toàn mới, đặc biệt với việc toàn bộ cơ thể chúng được bao phủ bởi lông tơ.
Loài cua này được gọi là cua bọt biển, cua lông mịn, được tìm thấy ngoài khơi bờ biển phía nam Tây Úc, nơi chúng đội thêm một chiếc mũ bảo vệ gọn gàng làm từ bọt biển sống.
Được đặt tên để vinh danh HMS Beagle - nơi Charles Darwin tiến hành nghiên cứu - loài giáp xác lông đặc biệt này có tên khoa học là Lamarckdromia beagle, thuộc họ Dromiidae.

Tiến sĩ Andrew Hosie, người phụ trách nghiên cứu động vật giáp xác và sâu của Bảo tàng Tây Úc, nói rằng: 'Chúng có hành vi bất thường là mang theo một miếng bọt biển sống'.
'Bông mềm là đặc điểm giúp chúng tôi phân biệt loài. Cua bọt biển thường phủ nhiều lông, nhưng trông giống nỉ hoặc nhung hơn là kiểu 'áo khoác' bù xù này', Hosie nói.
'Cua thường cắt miếng bọt biển để tạo hình, sau đó cho nó phát triển thành hình dạng phù hợp với cơ thể chúng. Thực tế, những miếng bọt biển này được sử dụng như một chiếc mũ hoặc tấm chăn bảo vệ giúp cho loài cua kỳ lạ này tránh khỏi bạch tuộc và cá săn mồi'.
Phương pháp ngụy trang độc đáo này rộng rãi được sử dụng trong họ dromiidae - Tương tự như cách cua ẩn cư sử dụng vỏ để bảo vệ, bọt biển giúp những loài trong họ dromiidae ngụy trang tránh kẻ săn mồi.

Tại sao loài cua này lại có toàn bộ cơ thể bao phủ bởi lông tơ vẫn chưa được giải đáp, bởi đây là một loài mới và cần nghiên cứu thêm.
'Tất cả các thành viên trong họ này đều có lông ở một mức độ nào đó', Hosie nói. 'Chúng tôi không thể đưa ra câu trả lời chính xác về tại sao điều đó lại xảy ra... chúng tôi nghi ngờ rằng lông có thể giúp chúng ngụy trang tốt hơn khỏi kẻ săn mồi'.


Ngoài cua bọt biển, cua Yeti cũng là một loài cua có lông. Được gọi là cua người rừng bởi chúng có lông dày giống người rừng Yeti. Tên khoa học của chúng là Kiwa hirsuta, thuộc họ Kiwaidae. Loài này được phát hiện vào năm 2005. Các chiếc càng đầy lông của chúng chứa nhiều vi khuẩn sợi, giúp loại bỏ độc tố từ nước thải phun ra từ miệng thủy nhiệt dưới đáy đại dương.

Phát hiện loài này vào tháng 3 năm 2005 do một nhóm nghiên cứu do Robert Vrijenhoek của Viện Nghiên cứu Monterey Bay Aquarium ở Monterey, California và Michel Segonzac của Ifremer và một nhà nghiên cứu biển sử dụng tàu ngầm DSV Alvin, hoạt động từ RV Atlantis. Công bố phát hiện vào ngày 07 tháng 3 năm 2006. Chúng được tìm thấy dọc theo Rãnh Thái Bình Dương - Nam Cực, 1.500 km về phía nam của đảo Phục Sinh ở độ sâu 2.200 mét. Loài này sống ở miệng phun thủy nhiệt. Dựa trên cả hai hình thái và dữ liệu phân tử, sinh vật này được xem là thuộc một họ sinh học mới (Kiwaidae); một loài thứ hai của họ này là Kiwa puravida, được phát hiện vào năm 2006 và được mô tả vào năm 2011.

Loài cua này chủ yếu sống ở vùng nước sâu khoảng 2.200 m. Bề ngoài, chúng trông như được bao phủ bởi lông mềm như nhện. Tuy nhiên, bộ lông của chúng thực sự là lông cứng. Có chiều dài khoảng 15 cm, lớp lông màu vàng phủ kín 2 càng và cả chân. Sắc tố trên mắt của cua giảm mạnh, và chúng được cho là 'mù'. Các sợi lông này chứa vi khuẩn sợi, giúp chúng phân giải các chất độc hại và khoáng chất từ môi trường xung quanh.
