
| Bù xòe | |
|---|---|
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Animalia |
| Ngành (phylum) | Arthropoda |
| Lớp (class) | Insecta |
| Bộ (ordo) | Coleoptera |
| Phân bộ (subordo) | Polyphaga |
| Họ (familia) | Cerambycidae |
| Chi (genus) | Plocaederus |
Xén tóc hại thân xoài, còn được biết đến với tên gọi bù xòe (Danh pháp khoa học: Plocaederus), là một chi bọ cánh cứng thuộc họ xén tóc Cerambycidae. Các loài trong chi này thường gây hại cho cây xoài.
Các loài
Chi này bao gồm các loài sau đây
- Plocaederus barauna Martins & Monné, 2002
- Plocaederus bipartitus (Buquet, 1860)
- Plocaederus confusus Martins & Monné, 2002
- Plocaederus dozieri Martins & Galileo, 2010
- Plocaederus fasciatus (Martins & Monné, 1975)
- Plocaederus fragosoi Martins & Monné, 2002
- Plocaederus fraterculus (Martins, 1979)
- Plocaederus glaberrimus (Martins, 1979)
- Plocaederus glabricollis (Bates, 1870)
- Plocaederus inconstans (Gounelle, 1913)
- Plocaederus mirim Martins & Monné, 2002
- Plocaederus pactor (Lameere, 1885)
- Plocaederus pisinnus (Martins & Monné, 1975)
- Plocaederus plicatus (Olivier, 1790)
- Plocaederus rugosus (Olivier, 1795)
- Plocaederus rusticus (Gounelle, 1909)
- Plocaederus yucatecus (Chemsak & Noguera, 1997)
Ảnh hưởng
Các loài xén tóc này thường đục vào thân chính hoặc nhánh lớn của cây, dẫn đến việc nhánh chết hoặc làm cây suy yếu. Con trưởng thành có thân hình cứng cáp, màu nâu đậm, dài khoảng 30-35mm. Chân và râu có màu nâu đỏ, râu dài và cứng hơn cơ thể. Con cái đặt trứng vào các vết nứt của cây hoặc ngay trên vỏ cây. Ấu trùng màu trắng, dài khoảng 50-60mm, với đầu nhỏ hơn nhiều so với phần thân. Khi nở, ấu trùng chui vào vỏ cây, tạo ra các đường hầm trong thân và nhánh cây, gây hại ở đó.
Giai đoạn ấu trùng kéo dài và có khả năng gây hại rất lớn. Ấu trùng đủ lớn sẽ chui ra và biến thành nhộng ngay dưới vỏ cây. Nhộng được bao bọc trong một lớp kén trắng, cấu tạo từ calcium rất cứng. Trong một cây có thể có nhiều ấu trùng gây hại cùng một lúc. Loài này thường tấn công cây đã có tuổi từ khoảng 10 năm. Rất khó để nhận biết sự gây hại vì trong quá trình ăn, loài này không thải phân ra ngoài, thường chỉ phát hiện khi ấu trùng đã hóa nhộng và thông qua các lỗ đục. Trên cành bị đục có nhiều lỗ nhỏ, từ đó mủ sẽ chảy ra.
- Bezark, Larry G. A Photographic Catalog of the Cerambycidae of the World. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2012.
