Sau thời gian ban đầu bị bất ngờ, những binh sĩ ở phía đối diện chiến tuyến đã học được cách đối phó hiệu quả với loại tàu đệm khí này bằng các cuộc phục kích và việc sử dụng mìn hải quân.
(tiếp theo)
Tàu đệm khí sử dụng động cơ tuabin khí General Electric 7LM100-PJ102, cánh quạt đường kính 2,1 m cho công suất lên tới 1100 mã lực. Công suất mạnh mẽ này giúp cho tàu đệm khí có thể đạt tới tốc độ tối đa là 60 hải lý/giờ (khoảng 110 km/h). Bình nhiên liệu có tổng dung tích 1150 lít, đủ để đi được quãng đường 165 hải lý (khoảng 306 km) hoặc khoảng 7 giờ hoạt động liên tục.

Một chiếc tàu đệm khí Hải quân PACV3 với các bao cát quanh vị trí chiến đấu trên nóc
Phiên bản Lục quân của tàu này được gọi là Air Cushion Vehicles thì có khối lượng lớn hơn và được bọc thép tốt hơn. Do ngay từ ban đầu nó đã được thiết kế cho các hoạt động tấn công đột kích nên lớp giáp và boong đã được gia cường. Tổng khối lượng của 'bộ giáp' là 450 kg, tương đương với khối lượng lớp giáp của mẫu thiết vận xa (thiết giáp chở quân) M113 nổi tiếng. Đồng thời, hộp số, động cơ và thùng nhiên liệu cũng được bọc giáp để có thể chịu được đạn 12,7 mm từ khoảng cách 200 thước Anh (tương đương 180 mét).
Lớp bọc thép của khoang chiến đấu thì yếu hơn - nó chỉ có thể chịu được đạn 7,62 mm từ khoảng cách 100 thước Anh (90 mét). Theo khuyến nghị của lục quân Mỹ, các nhà chế tạo đã loại bỏ lớp giáp xung quanh khoang chiến đấu để giảm khối lượng bởi hiệu quả bảo vệ không cao, nhất là trước các vũ khí hạng nặng như súng không giật, pháo và RPG thì càng vô dụng.

Tất cả các tàu đệm khí PACV SK-5 đều được trang bị vũ khí.
Vũ khí chính của các tàu SK-5 là hai tháp súng máy M2 Browning cỡ nòng lớn 12,7 mm đặt trên nóc khoang chỉ huy. Ở hai bên trái và phải của tàu, vũ khí 'phụ trợ' gồm hai khẩu súng máy M60 7,62 mm được bố trí trên chân súng giống như trên máy bay trực thăng. Ngoài ra, một số tàu còn được trang bị súng phóng lựu tự động M75 40 mm.
Các tàu PACV được trang bị nhiều radar giúp chúng có thể hoạt động cả vào ban đêm, trong đó có một radar Decca 202 với ăng ten chảo có khả năng phát hiện mục tiêu trong vòng 24 dặm (39 km). Khi hoạt động trong điều kiện tầm nhìn kém và sương mù, sự có mặt của radar tầm xa là một ưu điểm quan trọng.
'Quái vật' gặp rắc rối và bị loại bỏ
Tàu đệm khí được Hải quân Mỹ sử dụng tại chiến trường lần đầu từ năm 1966 đến năm 1970. Dựa trên kinh nghiệm thu được trong giai đoạn này, Mỹ kết luận rằng việc vận hành chúng tốn kém, không đáng tin cậy và cần phải được bảo dưỡng thường xuyên. Do đó, từ năm 1970, các tàu đã được chuyển giao cho Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Mỹ để quản lý.

Một chiếc ACV đang được nâng lên để tiến hành sửa chữa
Trong thời kỳ 1966-1970 chỉ có tổng cộng 06 chiếc SK-5 được sử dụng ngoài trận địa: 03 chiếc PACV hải quân và 03 chiếc ACV lục quân. Trong số 3 chiếc ACV, 2 chiếc tấn công đã bị hủy trong các trận đánh, chỉ còn lại một chiếc là tàu vận tải.
Nhờ tốc độ cao, khả năng di chuyển nhanh nhẹn và tự do trên địa hình gồ ghề, những chiếc tàu đệm khí thường được so sánh với trực thăng. Tuy nhiên, vấn đề khiến người Mỹ đau đầu là chi phí vận hành và tính phức tạp trong sửa chữa và bảo trì công nghệ để những cỗ máy 'quái vật' này hoạt động trơn tru.

Một nhóm binh sĩ thuộc Sư đoàn 9 Bộ binh đang sửa chữa một chiếc PACV bị hỏng ngày 18 tháng 7 năm 1968
Để vận hành được loại tàu đệm khí tinh vi này, kíp lái và đội thợ sửa chữa cần có trình độ rất cao. Kíp lái bắt buộc phải trải qua khóa huấn luyện có thời gian từ 75-100 giờ trước khi được phép tham gia các hoạt động chiến đấu.
Điều này có nghĩa là mỗi tháng quân đội Mỹ phải dành riêng một chiếc tàu đệm khí để huấn luyện trong 14 ngày. Sự cẩn thận này hoàn toàn không thừa vì trong quá trình huấn luyện đã có một binh sĩ tử vong vì rơi vào cửa hút động cơ, và một người khác bị chấn thương mất tay.

Một tàu đệm khí tuần tra của Hải quân Mỹ được vận chuyển bằng tàu USS Gunston
Một nhược điểm rất lớn của PACV là mỗi giờ hoạt động của nó sau đó cần tới 20 giờ bảo dưỡng, tương đương với tỷ lệ vận hành/bảo dưỡng của máy bay vận tải hạng nặng C-17 Globemaster III, và gấp đôi so với máy bay trực thăng quân sự trung bình (10 giờ).
Vì vậy, hoàn toàn dễ hiểu khi cả ba chiếc PACV SK-5 của Hải quân hiếm khi nào ở trong tình trạng 'sẵn sàng chiến đấu' cùng một lúc. Do mức độ sẵn sàng hoạt động của chúng thường chỉ hơn 55%, nên lần duy nhất mà cả 3 chiếc PACV cùng ra quân là vào tháng 6 năm 1969.

Một chiếc ACV của quân đội Mỹ đã bị phá hủy vào ngày 3 tháng 8 năm 1970 bởi một quả mìn khiến 3 binh sĩ thiệt mạng
Nếu những chiếc tàu bị hỏng trong chiến đấu thì thời gian bảo trì của chúng càng tăng lên, kết hợp với vấn đề 'hỏa lực không đủ' nên quân đội Mỹ đã kết luận đắng lòng rằng: 'không có hy vọng nào cho thấy đơn vị (PACV/ACV) có thể đạt được kết quả chiến đấu thỏa đáng trong bất kỳ cuộc giao tranh lớn nào.'
PACV cũng rất đắt đỏ khi mỗi chiếc có giá khoảng 1 triệu đô la, tương đương với 13 tàu tuần tra Rivers .
Theo thời gian, việc thiếu trang bị vũ khí của PACV cũng được cho là những điểm bất lợi. Súng máy cỡ nòng 12,7 mm không đủ để đối phó với các mục tiêu bọc thép và hỏa điểm kiên cố. Quân đội Mỹ đã đề nghị phê chuẩn gói nâng cấp vũ khí trang bị bổ sung cho đội tàu đệm khí bằng pháo tự động 20 mm, pháo M61 Vulcan 6 nòng, hệ thống chống tăng TOW hoặc súng không giật M40 106 mm, tuy nhiên không được thông qua.
Sau thời gian đầu bị bất ngờ, những người lính phía bên kia chiến tuyến đã học được cách đối phó hiệu quả với loại thiết bị quân sự này bằng các cuộc phục kích và sử dụng mìn hải quân.
Chiếc ACV số hiệu 902 của Lục quân Mỹ đã bị phá hủy bởi một quả mìn vào ngày 9 tháng 1 năm 1970. Mặc dù không có ai trên tàu bị thiệt mạng nhưng vụ nổ đã khiến cho 14 người bị thương và làm chậm tốc độ tiến công của ACV do các quy định của Quân đội bắt buộc các tàu đệm khí phải hoạt động theo cặp để bảo vệ lẫn nhau.
Sau khi tàu đệm khí ACV số hiệu 901 bị phá hủy bởi một quả mìn vào ngày 3 tháng 8 năm 1970 khiến 3 binh sĩ thiệt mạng, đội tàu ACV đã hoàn toàn bị tê liệt.

Một chiếc ACV đã được chuyển giao cho lực lượng cảnh sát biển Mỹ
Trung đội ACV 39 của lục quân Mỹ dừng hoạt động vào ngày 31 tháng 8 năm 1970 và chính thức rời chiến trường vào tháng 9 cùng năm. Chiếc ACV vận tải duy nhất còn nguyên vẹn đã được chuyển giao cho Bảo tàng Vận tải Quân sự ở Virginia. PACV của Hải quân cũng trở lại Mỹ vào tháng 8 năm đó.
Vì vậy, sau hơn 4.500 giờ hoạt động tại chiến trường, những chiếc tàu đệm khí Mỹ đã bộc lộ các nhược điểm khó khắc phục và buộc phải rút khỏi cuộc chiến.
