

Đàn bà hay đau yếu, hoặc đôi khi mặt đỏ rần rần, hoặc hay nằm mơ thấy bay và thấy lội dưới nước thì cho là có số phải thờ. Người có số phải thờ, phải đem vàng hương đến kêu tại cửa tĩnh nào, đội bát phù hương, xin làm con công đệ tử. Đã thờ rồi, thì cứ mồng năm, ngày Tết phải đến lễ. Người nào chư vị bắt đồng thì phải ngồi đồng hầu bóng thánh; ai còn trẻ tuổi thì xin khất lại mấy năm cũng được.
Khi thực hiện nghi lễ cho thần linh, người ta thường phải tạo ra một không gian yên bình để thờ cúng, có thể là ở nhà hoặc đến những nơi linh thiêng khác.
Nơi thờ cúng được trang trí với các hình tượng, đèn dầu, hương trầm, và các vật phẩm quý giá khác, tạo nên một không gian trang nghiêm và uy nghi.
Những người thực hiện nghi lễ thường mua những loại trái cây, kẹo ngọt để dâng lên trong các buổi lễ hằng ngày và đêm.
Đôi khi, vào những dịp đặc biệt như rằm tháng, ngày đầu tháng, các ngày lễ, hoặc khi có người cần sự giúp đỡ, người ta thường mời thầy pháp tướng để thực hiện các nghi lễ.
Có khi thầy pháp tướng yêu cầu lấy rượu hỏa thang để làm sạch tâm hồn, và nhà chủ cần tuân theo các lời khuyên và lễ nghi được chỉ dẫn.

Hằng năm vào những ngày quan trọng như mồng sáu, bảy tháng Hai (ngày hội đền thờ bà Thiên Hậu) và mồng tám tháng Ba (ngày hội đền thờ bà chúa Liễu), được gọi là ngày hội Bà cốt, các đồng cốt về đền lễ bái bước đông đúc. Họ múa mênh một cách vui tươi và tranh nhau nhìn ngắm. Có những đồng được thánh tặng danh hiệu đồng quan khi xin âm dương thành công, được coi là quý nhất trong số các đồng.
*
Một số người cho rằng cách múa mênh của đồng cốt giống như cách nhảy đầm của phụ nữ Âu châu, một cách biểu diễn để thể hiện sự quyến rũ và dịu dàng. Tuy nhiên, điều này không phải là phong tục của chúng ta mà chỉ là mượn để tỏ ra đẹp mắt, không có gì kỳ lạ.
Có lẽ những lời đó đúng. Thánh không thể bắt đồng cốt phải thực hiện điều đó, vì họ cũng là những người có uy tín và danh tiếng, không lý gì họ phải tỏ ra như vậy trước mặt người khác.
Người mắc bệnh và lòng mê tín thường quá mức. Họ tin tưởng tuyệt đối vào phép thần, uống nước lã, xoa quết trầu mà không do dự. Họ nghe thấy câu gì của đồng chồng con nói vào làm theo, thậm chí cả việc cúng cũng không bỏ qua. Thật là tội lỗi! Nếu không khỏi sau nhiều lần cúng thì coi như người nhà không thành, không tin vào sức mạnh của phép thánh; nhưng nếu chết đi thì lại nói là do số mệnh. Thánh thì đôi khi hiệu quả, đồng cũng vậy, không ai có thể nói được điều gì chắc chắn. Còn có nhiều bệnh thánh không chữa được, chỉ nói về thuốc phục dược, uống mà khỏi thì nhờ thánh, không khỏi thì khen thuốc không tốt, liệu có phải tất cả đều do thánh không?
Đáng trách những người ngu dốt, chỉ tin vào những điều siêu nhiên mà bỏ qua những điều hiển nhiên. Ở các làng quê, nam giới cũng thế. Đôi khi có người có kiến thức, nhưng bị coi là ngu xuẩn chỉ vì họ tôn trọng những gì có liên quan đến quỷ thần.
Thật đáng tiếc khi tín ngưỡng phù thủy và đồng cốt vẫn còn phổ biến, thể hiện sự ngu ngốc của dân chúng. Chỉ khi quốc gia xóa sạch được những tư tưởng đó thì mới có thể phát triển khôn ngoan.
—""
Bộ sách thu hút giới trẻ Việt khám phá nguồn gốc văn hóa dân tộc
Gần đây, bộ sách “Kho tàng văn hóa Việt” vừa ra mắt hai cuốn sách mới về lịch sử và văn hóa dân tộc Việt Nam, đó là “Huyền thoại cổ xưa” và “Phong tục Việt Nam” với những điểm đặc biệt đáng chú ý.

Cuốn sách “Huyền thoại cổ xưa” gồm 250 câu chuyện cổ xưa được hai học giả Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân tập hợp, lựa chọn và biên soạn từ các tài liệu cổ, các truyện thần thoại và sách kinh điển của Trung Quốc như Tử Tâm Nguyên Khảo, Lão Tử, Thần Dục Bát Quái, v.v. Các câu chuyện này chứa đựng những triết lý đơn giản, chân thực, xoay quanh lòng hiếu thảo, lòng trung trực, tinh thần lễ nghĩa, đạo đức, v.v. Mỗi câu chuyện có những ý nghĩa sâu sắc, làm nổi bật nét đẹp văn hóa của người phương Đông. Đây là sự nỗ lực của hai tác giả trong việc bảo tồn bản sắc dân tộc, gợi nhớ thế hệ sau dù tiếp nhận kiến thức mới từ các nền văn minh tiên tiến vẫn không quên nguồn gốc, không đánh mất những giá trị truyền thống quý báu.
Trong khi đó, cuốn sách “Phong tục Việt Nam” của tác giả Phan Kế Bính có thể xem như một tác phẩm nghiên cứu sâu rộng, tỉ mỉ về văn hóa, cách sống của người Việt Nam qua hàng ngàn năm, trong bối cảnh gia đình và xã hội. Thực tế, cuốn sách đã hơn một thế kỷ tuổi này vẫn là một trong những công trình nghiên cứu có giá trị hàng đầu về phong tục tập quán của người Việt Nam.
