Đề bài: Có ý kiến đánh giá: 'Tuyên ngôn Độc lập là một tác phẩm văn học... đầy sức thuyết phục'. Hãy phân tích để làm rõ quan điểm trên
I. Kế hoạch
II. Mẫu văn bản
Kế hoạch, bài mẫu phân tích và làm sáng tỏ quan điểm về Tuyên ngôn Độc lập, một tác phẩm văn học đầy sức thuyết phục
Bài viết
Chia sẻ Bí quyết phân tích đoạn văn, đoạn thơ hay, đạt điểm cao
Nhà thơ Việt Phương đã miêu tả về Bác một cách tuyệt vời trong bài thơ Muôn vàn tình thân yêu bao phủ lên khắp quê hương
'Bác thường để lại đĩa thịt gà mà ăn trọn mấy quả cà xứ Nghệ
Tránh nói chữ to và đi nhẹ cả trong vườn
Tim đau hết nỗi đau người ở chân trời góc bể
Đến bên Người ta thở dễ dàng hơn
Khi đã quyết rất kiên cường mạnh mẽ
Đốt cháy Trường Sơn đánh Mỹ cũng không sờn
Lòng trời biển dịu hiền khi gặp trẻ
Sấm sét im cho nắng ấm chồi non...'
Toàn bộ con người, nhân cách và hoài bão lớn lao của Hồ Chí Minh được thể hiện qua sự nghiệp chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa, giáo dục,... của Người. Trong những sự nghiệp đó, có một sự nghiệp đặc sắc, đa dạng và phong phú, có giá trị lâu bền - đó là sự nghiệp văn chương. Bác viết văn không chỉ là cảm hứng ngẫu nhiên, mà luôn đi theo dấu chân của cuộc cách mạng, làm đồng lòng với sự nghiệp cách mạng của mình. Điển hình nhất là bản Tuyên ngôn độc lập, do Bác viết và tuyên đọc vào ngày 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội. Có ý kiến nói rằng: 'Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện lịch sử to lớn, một bài văn chính luận ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, đanh thép, lời lẽ hùng hồn, đầy sức thuyết phục'. Điều này là hoàn toàn chính xác, để làm rõ điều này, hãy cùng nhau khám phá từ nhiều khía cạnh khác nhau của bản Tuyên ngôn.
Chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, Nhật Bản đầu hàng quân Đồng Minh, nhân dân cả nước đồng lòng giành lại quyền lực. Ngày 26/8/1945, Bác Hồ trở về Hà Nội từ chiến khu Việt Bắc, tại căn nhà số 48, phố Hàng Ngang, Người soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập. Ngày 2/9/1945, trước hàng vạn đồng bào tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Người đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam mới - Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Văn kiện lịch sử này ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt, khi Pháp tuyên bố: 'Đông Dương là thuộc địa của Pháp, bị Nhật xâm chiếm, nay Nhật đầu hàng thì Đông Dương phải trả về tay Pháp'. Đồng thời, các thế lực thù địch quốc tế cũng nhảy vào xâm lược nước ta. Với bao khó khăn chồng chất, trong những ngày đầu tiên của chính quyền mới, đất nước mới, của người Việt Nam.
Bản Tuyên ngôn đội ngũ mang ý nghĩa và giá trị lịch sử vô cùng quan trọng, mở ra một thời kỳ mới cho sự độc lập của dân tộc, kết thúc chuỗi 80 năm bị đô hộ bởi thực dân Pháp, chấm dứt chế độ phong kiến tồn tại hơn 1000 năm trên lãnh thổ Việt Nam. Từ đó, đất nước hoàn toàn tự do và có quyền tự quyết trong mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị. Việt Nam là của người Việt Nam, không phải là của bất kỳ giống loài ngoại lai nào khác. Đặc biệt, Tuyên ngôn độc lập không chỉ hướng đến nhân dân Việt Nam, mà còn hướng đến các thế lực địch đang âm mưu xâm lược, làm thất bại những âm mưu và lập luận xảo trá của chúng. Bản Tuyên ngôn còn kêu gọi toàn bộ các dân tộc trên thế giới đang đấu tranh cho tự do và độc lập, đồng lòng ủng hộ những phong trào đó và nhận sự giúp đỡ của nhân dân trên toàn cầu. Vậy là bản Tuyên ngôn độc lập trở thành một tác phẩm lịch sử với ý nghĩa và giá trị vô cùng to lớn.
Là một văn kiện với ý nghĩa lịch sử quan trọng, Tuyên ngôn độc lập không chỉ là bài văn chính luận ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, đanh thép và lời lẽ hùng hồn mà còn đầy sức thuyết phục. Điều này được chứng minh qua 3 điểm chính: cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn và lời tuyên ngôn độc lập của Bác. Những điểm ấy đã đánh bại âm mưu xâm lược và những lời nói xảo trá.
Trong phần cơ sở pháp lý, Hồ Chí Minh thông qua bản Tuyên ngôn, đã khéo léo sử dụng những chân lý trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ (1776): 'Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa đã ban cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc'. Bác Chủ tịch đã khéo léo làm rõ rằng tất cả dân tộc trên thế giới sinh ra đều bình đẳng và có quyền tự do, quyền bình đẳng. Đồng thời, Bác cũng trích dẫn Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (1791) để nhấn mạnh hai từ 'tự do' và 'bình đẳng'.
Việc trích dẫn hai bản tuyên ngôn lớn như vậy mang ý nghĩa quan trọng, bởi đó là của hai quốc gia lớn. Đây cũng là những chân lý của thời đại và đồng thời là của những kẻ đang thực hiện âm mưu xâm lược. Bác đã thông qua lời nói của đối thủ để đối đầu với đối thủ, phá tan âm mưu của Pháp và các thế lực thù địch. Cuối cùng, Người một lần nữa khẳng định chân lý trong một câu văn ngắn gọn: 'Những điều đó là không thể chối cãi'. Điều này chứng minh sự mạnh mẽ và tinh tế của Bác Hồ Chí Minh trong nghệ thuật thuyết trình, thể hiện sự thông tuệ và khao khát của Người cũng như của toàn bộ dân tộc Việt Nam về cuộc sống tự do và bình đẳng.
Về phần cơ sở thực tiễn, Bác đã hoàn toàn bác bỏ những lời nói xảo trá của thực dân Pháp bằng những bằng chứng rõ ràng và xác thực: 'Hơn 80 năm qua, thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, để cướp đất nước, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa'. Bác bác bỏ những lời nói 'khai hóa', nêu bật tội ác của Pháp cả trong chính trị và kinh tế. Về chính trị, 'chúng không cho dân ta một chút tự do dân chủ nào', và rằng việc 'khai hóa' là thất bại khi gây ra những thảm sát và đổ máu, đồng thời gieo rắc thuốc phiện, rượu cồn để tiêu diệt giống nòi ta. Tất cả những chứng cứ này là đòn chí mạng vào luận điệu 'khai hóa' mà Pháp thường xuyên lặp lại, cố tình lừa dối dân ta và thế giới.
Sau khi đánh bại luận điệu 'khai hóa', Bác tiếp tục lật đổ luận điệu 'bảo hộ' của bè lũ quân xâm lược Pháp. Minh chứng rõ nhất là Pháp đã bán nước ta hai lần cho phát xít Nhật trong vòng 5 năm, xiềng xích của Pháp - Nhật đã khiến cho hơn 2 triệu đồng bào chết đói. Trong thời kỳ dầu sôi lửa bỏng, Pháp từ chối đề nghị liên minh chống Nhật của ta, quay ra khủng bố khiến chúng ta tổn thất nặng nề. Sự không biết xấu hổ của Pháp khiến chúng không dám hô to 'bảo hộ' Việt Nam của mình. Chắc chắn là không, những chứng cứ này đã nhanh chóng chặn đứng thực dân Pháp, lột trần bộ mặt giả dối và bẩn thỉu, phơi bày những luận điệu xảo trá khi tiến quân xâm lược nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định: 'Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, không phải của Pháp. Dân ta đã giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa' và 'Dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, không phải từ tay Pháp'.
Cuối cùng, sau khi lập luận bác bỏ hết luận điệu 'khai hóa' và 'bảo hộ' của thực dân Pháp, với lời lẽ hùng hồn và súc tích, kết cấu trùng điệp, Bác nhấn mạnh hai vấn đề chính là 'tự do', 'độc lập'. Những từ ngữ này không chỉ xuất phát từ trái tim, tâm huyết của nhân dân Việt Nam mà còn là tuyên bố với toàn bộ nhân dân thế giới rằng: 'Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật là nước ta đã trở thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết sẽ giữ vững quyền tự do, độc lập đó bằng mọi phương tiện có thể!'
Dù đã hơn 70 năm trôi qua, bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên những giá trị lịch sử quan trọng, là dấu mốc lịch sử trong sự phát triển của dân tộc, mở ra một kỷ nguyên mới cho đất nước - kỷ nguyên của tự do và độc lập. Bằng lý lẽ sắc bén, sức thuyết phục, Tuyên ngôn độc lập đã trở thành một tác phẩm chính luận xuất sắc đánh bại những luận điệu xảo trá, bẩn thỉu của quân thù, khẳng định toàn diện sự độc lập của Việt Nam.
"""""HẾT""""""-
Để củng cố kiến thức cơ bản, nắm vững cách làm bài văn phân tích, chuẩn bị cho kỳ thi THPT, học sinh lớp 12 nên tham khảo những bài phân tích Tuyên ngôn độc lập hấp dẫn khác như: Phân tích cơ sở thực tế trong bản tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh, Phân tích đoạn mở đầu của Tuyên ngôn Độc lập của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Phân tích nghệ thuật lập luận trong văn bản Tuyên ngôn độc lập, phân tích Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh,...
