
|
Từ Liêm
|
|
|---|---|
| Huyện | |
| Huyện Từ Liêm | |
Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình | |
| Hành chính | |
| Quốc gia | Việt Nam |
| Vùng | Đồng bằng sông Hồng |
| Thành phố | Hà Nội |
| Huyện lỵ | thị trấn Cầu Diễn |
| Phân chia hành chính | 1 thị trấn, 15 xã |
| Thành lập | 31/5/1961 |
| Giải thể | 27/12/2013 |
| Địa lý | |
| Tọa độ: | |
| Diện tích | 75,63 km² |
| Dân số (2013) | |
| Tổng cộng | 553.308 người |
| Mật độ | 7.316 người/km² |
Quận Từ Liêm là một đơn vị hành chính cũ trong thành phố Hà Nội, Việt Nam.
Vào cuối năm 2013, huyện Từ Liêm đã được giải thể để thành lập hai quận mới của thành phố Hà Nội là Bắc Từ Liêm và Nam Từ Liêm theo Nghị quyết số 132/NQ-CP của Chính phủ.
Khía cạnh địa lý
Trước năm 2008, Từ Liêm là huyện ngoại ô phía tây của Hà Nội, nhưng sau khi Hà Nội mở rộng ranh giới hành chính vào năm 2008, huyện này đã nằm gần trung tâm thành phố. Quận Từ Liêm có vị trí địa lý như sau:
- Phía đông giáp các quận Cầu Giấy, Tây Hồ và Thanh Xuân
- Phía tây giáp hai huyện Đan Phượng và Hoài Đức
- Phía nam giáp quận Hà Đông
- Phía bắc giáp huyện Đông Anh với ranh giới là sông Hồng.
Trước khi giải thể vào năm 2013, diện tích của huyện Từ Liêm là 75,63 km², dân số là 553.308 người, mật độ dân số đạt 7.316 người/km².
Lịch sử
Tên gọi Từ Liêm được đặt năm Vũ Đức thứ 4 (621) thời kỳ nhà Đường, là một phần của Từ Châu (sau đổi thành Nam Từ Châu, bao gồm 3 huyện: Từ Liêm, Ô Diên và Vũ Lập). Theo Đường thư và Địa lý chí, tên gọi Từ Liêm bắt nguồn từ sông Từ Liêm. Thực tế, 2 chữ Từ Liêm là phiên âm Hán Việt của địa danh Chèm (Trèm), nằm tại xã Thụy Phương ở phía Bắc huyện (hiện là phường Thụy Phương, quận Bắc Từ Liêm).
Thời Lý-Trần, huyện Từ Liêm thuộc phủ Đông Đô. Thời Minh, thuộc phủ Giao Châu.
Nhà Lê đặt huyện Từ Liêm thuộc phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây. Trước năm 1831, Từ Liêm là một huyện của phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây.

Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), huyện Từ Liêm được đặt thuộc phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội (nay là thành phố Hà Nội và một phần phía nam huyện Hoài Đức, và một phần huyện Đan Phượng). Huyện Từ Liêm lúc đó bao gồm 13 tổng:
- Tổng Thượng Hội (bao gồm: Thượng Hội, Hà Mỗ, Phù Trung, Vĩnh Ký, Thúy Hội (nay là xã Tân Hội, Đan Phượng), Thượng Mỗ),
- Tổng Thượng Trì (bao gồm: Thượng Trì, Hữu Cước, Bồng Lai, Bá Dương, Đông Lai (nay là Liên Hồng, Hồng Hà, Đan Phượng),
- Tổng Hạ Trì (bao gồm: Hạ Trì, Thượng Cát, Đại Cát, An Nội, Mạc Xá, Hoàng Xá),
- Tổng Phú Gia (bao gồm: Phú Gia, Thượng Thụy, Phú Xá, Thụy Hương (Thụy Phương), Quán La, Nhật Cảo (Nhật Tảo), Hoa Ngạc; nay là các phường Xuân La (Quán La), Phú Thượng (Phú Gia, Thượng Thụy) quận Tây Hồ, các phường Đông Ngạc (Nhật Tảo, Hoa Ngạc), Thụy Phương quận Bắc Từ Liêm,
- Tổng Minh Cảo (bao gồm: Minh Cảo, Đông Ngạc, Tam Bảo, Vạn Bảo, Bảo Xuyên),
- Tổng Cổ Nhuế (bao gồm: Cổ Nhuế, Cáo Đỉnh, Phu Diễn, Phù Diễn, Phú Diễn (nay là các phường Phú Diễn, Phúc Diễn, quận Bắc Từ Liêm),
- Tổng Dịch Vọng (bao gồm: Dịch Vọng (làng Vòng), Thượng Yên Quyết, Hạ Yên Quyết (làng Cót), Mai Dịch, Mễ Trì, Nhân Mục (làng Mọc, nay là Nhân Chính), Kính Chủ, Nghĩa Đô, Đoài Môn, Sở Dịch Vọng),
- Tổng Hương Canh (bao gồm: Hương Canh, Phú Mỹ, Vân Canh (nay là xã Vân Canh Hoài Đức), Nhân Mỹ, Miêu Nha (nay là phường Tây Mỗ quận Nam Từ Liêm)),
- Tổng Tây Đam (bao gồm: Tây Đam (nay là phường Tây Tựu quận Bắc Từ Liêm), Ngọc Kiều, Trung Đam, Phúc Đam, Đan Hội, Hạ Hội (nay là Tân Lập, Đan Phượng), Ngọc Hạnh),
- Tổng Thượng Ốc (bao gồm: Thượng Ốc, Thanh Chước, Hương Côn (nay là Vân Côn, Hoài Đức), Trang Linh Thượng, Hương Quan, Lại Dụ, Đông Lao (nay là Đông La),
- Tổng Yên Lũng (bao gồm: Yên Lũng (nay là An Thượng, Hoài Đức), Vân Lũng, Yên Thọ (nay là An Khánh, Hoài Đức), La Phù (nay là huyện Hoài Đức), Ngải Cầu, La Dương (nay là Dương Nội),
- Tổng La Nội (bao gồm: La Nội (nay là Dương Nội), La Tinh, Ỷ La, La Khê, Yên Lộ, Nghĩa Lộ (nay là Yên Nghĩa, Hà Đông)),
- Tổng Thiên Mỗ (bao gồm: Thiên Mỗ, Tây Mỗ, Vạn Bảo, Mộ Lao, Ngọc Trục (nay là phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm), Hồng Đô, Phùng Quang (nay là Phùng Khoang)).
Năm 1833, phủ lỵ Hoài Đức được dời từ thôn Tiên Thị, huyện Thọ Xương (nay thuộc khu vực phố Phủ Doãn, quận Hoàn Kiếm) về làng Dịch Vọng, huyện Từ Liêm (nay là Học viện Báo chí & Tuyên truyền, thuộc phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy).
Sau khi Hà Nội bị nhượng lại cho Pháp, một số xã của huyện Từ Liêm được nhập vào ngoại thành Hà Nội, phần còn lại nhập vào tỉnh Hà Đông.
Huyện Từ Liêm được tái lập từ việc sáp nhập hai quận 5 và 6 của Hà Nội cũ (bao gồm các xã Cổ Nhuế, Xuân Đỉnh, Đông Ngạc, Thụy Phương, Xuân La, Nhật Tân, Quảng An, Phú Thượng, Tứ Liên từ quận 5 cũ), cùng với một số xã như Trung Văn, Tây Tựu, Liên Mạc, Phú Diễn, Minh Khai, Thượng Cát, Xuân Phương, Hữu Hưng từ hai huyện Hoài Đức và Đan Phượng, theo Quyết định số 78-CP ngày 31 tháng 5 năm 1961 của Hội đồng Chính phủ.
Sau khi tái lập, huyện có 26 xã: Cổ Nhuế, Dịch Vọng, Đông Ngạc, Hữu Hưng, Liên Mạc, Mai Dịch, Mễ Trì, Minh Khai, Mỹ Đình, Nghĩa Đô, Nhân Chính, Nhật Tân, Phú Diễn, Phú Thượng, Quảng An, Tây Tựu, Thượng Cát, Thụy Phương, Trung Hòa, Trung Văn, Tứ Liên, Xuân Đỉnh, Xuân La, Xuân Phương, Yên Hòa, Yên Lãng.
Ngày 19 tháng 2 năm 1964, xã Hữu Hưng được chia thành 2 xã: Tây Mỗ và Đại Mỗ.
Ngày 9 tháng 8 năm 1973, xã Yên Lãng được chuyển về quản lý khu phố Đống Đa (sau chia thành 2 phường: Láng Hạ và Láng Thượng thuộc quận Đống Đa).
Ngày 20 tháng 4 năm 1978, 2 xã Phú Diễn và Minh Khai hợp nhất thành xã Phú Minh.
Ngày 13 tháng 10 năm 1982, thành lập 3 thị trấn: Cầu Giấy (tách ra từ xã Dịch Vọng), Cầu Diễn (tách ra từ các xã Mai Dịch, Mỹ Đình và Phú Minh), Nghĩa Đô (giải thể xã Nghĩa Đô và tách một phần diện tích xã Cổ Nhuế).
Ngày 17 tháng 9 năm 1990, thành lập thị trấn Mai Dịch (giải thể xã Mai Dịch và điều chỉnh một phần diện tích thị trấn Cầu Diễn) và chia lại xã Phú Minh thành 2 xã cũ là Phú Diễn và Minh Khai.
Ngày 17 tháng 4 năm 1992, chia thị trấn Nghĩa Đô thành 2 thị trấn: Nghĩa Đô và Nghĩa Tân.
Vào năm 1995, huyện Từ Liêm có 5 thị trấn: Cầu Giấy (huyện lỵ), Cầu Diễn, Mai Dịch, Nghĩa Đô, Nghĩa Tân và 24 xã: Cổ Nhuế, Đại Mỗ, Dịch Vọng, Đông Ngạc, Liên Mạc, Mễ Trì, Minh Khai, Mỹ Đình, Nhân Chính, Nhật Tân, Phú Diễn, Phú Thượng, Quảng An, Tây Mỗ, Tây Tựu, Thượng Cát, Thụy Phương, Trung Hòa, Trung Văn, Tứ Liên, Xuân Đỉnh, Xuân La, Xuân Phương, Yên Hòa.
Vào ngày 28 tháng 10 năm 1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 69-CP, điều chỉnh diện tích và dân số của 5 xã: Nhật Tân, Phú Thượng, Quảng An, Tứ Liên, Xuân La để thành lập quận Tây Hồ.
Vào ngày 22 tháng 11 năm 1996, Chính phủ ban hành Nghị định số 74-CP, điều chỉnh như sau:
- Thay đổi xã Nhân Chính thành quận Thanh Xuân mới
- Thành lập quận Cầu Giấy trên cơ sở diện tích và dân số của 4 thị trấn: Cầu Giấy, Mai Dịch, Nghĩa Đô, Nghĩa Tân và 3 xã: Dịch Vọng, Yên Hòa, Trung Hòa.
Đến năm 2013, huyện Từ Liêm có 16 đơn vị hành chính bao gồm thị trấn Cầu Diễn (huyện lỵ) và 15 xã: Cổ Nhuế, Đại Mỗ, Đông Ngạc, Liên Mạc, Mễ Trì, Minh Khai, Mỹ Đình, Phú Diễn, Tây Mỗ, Tây Tựu, Thượng Cát, Thụy Phương, Trung Văn, Xuân Đỉnh, Xuân Phương.
Vào ngày 27 tháng 12 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 132/NQ-CP, điều chỉnh như sau:
- Thành lập quận Bắc Từ Liêm trên cơ sở diện tích tự nhiên và dân số của các xã: Thượng Cát, Liên Mạc, Tây Tựu, Thụy Phương, Minh Khai, Phú Diễn, Đông Ngạc, Xuân Đỉnh, Cổ Nhuế; diện tích tự nhiên 9,30 ha và dân số 596 người của xã Xuân Phương; diện tích tự nhiên 75,48 ha và dân số 10.126 người của thị trấn Cầu Diễn. Quận Bắc Từ Liêm có tổng diện tích tự nhiên là 4.335,34 ha và dân số 320.414 người, bao gồm 13 phường trực thuộc.
- Thành lập quận Nam Từ Liêm trên cơ sở diện tích tự nhiên và dân số của các xã: Mễ Trì, Mỹ Đình, Trung Văn, Tây Mỗ, Đại Mỗ; diện tích tự nhiên 536,34 ha và dân số 34.052 người còn lại của xã Xuân Phương; diện tích tự nhiên 137,75 ha và dân số 23.279 người còn lại của thị trấn Cầu Diễn. Quận Nam Từ Liêm có tổng diện tích tự nhiên là 3.227,36 ha và dân số 232.894 người, gồm 10 phường trực thuộc.
- Đồng Khánh địa dư chí
Chú thích
Liên kết ngoài
- Từ Liêm tại Từ điển bách khoa Việt Nam
- Cổng giao tiếp điện tử huyện Từ Liêm
- Bản đồ Hà Nội trực tuyến
