- Loài rau cùng tên rau chân vịt xin xem thêm bài Gynura divaricata
| Rau tàu bay | |
|---|---|
Ngọn non, lá và hoa Rau tàu bay | |
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Plantae |
| (không phân hạng) | Angiospermae |
| (không phân hạng) | Eudicots |
| Bộ (ordo) | Asterales |
| Họ (familia) | Asteraceae |
| Phân họ (subfamilia) | Asteroideae |
| Tông (tribus) | Senecioneae |
| Chi (genus) | Crassocephalum |
| Loài (species) | C. crepidioides |
| Danh pháp hai phần | |
| Crassocephalum crepidioides (Benth.) S.Moore, 1912 | |
| Danh pháp đồng nghĩa | |
| |
Rau chân vịt hay còn gọi kim thất (danh pháp hai phần: Crassocephalum crepidioides) là một loài thực vật có hoa trong họ Cúc. Loài này được (Benth.) S.Moore mô tả khoa học đầu tiên năm 1912. Cây thân thảo hàng năm mọc hoang dại ở những nơi thoáng, len lỏi trong các cánh rừng hoặc bìa rừng, ven suối ở các vùng núi rừng nhiệt đới.
Mô tả chi tiết
Thân thảo mập, có rãnh mọc đứng, cao khoảng 0,4 m đến 0,5 m nhưng cũng có thể tới 1 m. Có rễ cái màu trắng hoặc nâu. Lá to, mỏng, hình trứng dài, mép có răng cưa to hoặc có khía, có mùi thơm. Hoa lưỡng tính, tự hình đầu, hợp thành ngù, màu hồng nhạt đến đỏ và đỏ nâu, có mào lông mịn, trắng, mềm. Quả bé có mào lông.
Phân phối
Ở những vùng có khí hậu nhiệt đới: hầu hết các khu vực ở Châu Á và Châu Phi. Cũng có mặt ở một số bang của Mỹ, các đảo ở Đông Nam Địa Trung Hải, Quần đảo Cook...
Đặc điểm sinh trưởng
Là loài cây một năm, thích hợp với đất ẩm, phân bố rộng. Có thể mọc ở những nơi có độ cao lên đến 2.500 m, có thể tái sinh bằng hạt nảy mầm hoặc bằng thân cây. Hoa nở từ tháng 9 đến tháng 2, ra quả từ tháng 10 đến tháng 3. Đầu các nhụy hoa khi khô biến thành các tụ bông nhẹ, bay theo gió, mang theo nhụy và hạt cây đi đến những nơi thuận lợi để sinh sôi.
Rau răm bay còn nổi tiếng vì sử dụng trong chiến tranh Việt Nam; ở các khu rừng núi, đây là một trong những loài cây rừng quan trọng được ưa chuộng thay thế rau xanh.
Sử dụng
Mặc dù được gọi là rau nhưng thực tế đó chỉ là một loại cỏ dại, có thể ăn được nhưng vì có nguồn gốc hoang dại và có nhiều độc tính nên không được sử dụng nhiều hoặc trồng như là rau. Ở Việt Nam, đôi khi nó được dùng làm thực phẩm thay thế rau xanh nhưng rất hạn chế do có mùi hắc rất khó chịu, ngay cả khi đã luộc chín.
Đọt non của cây có thể luộc, nấu canh hoặc làm nộm pha trộn với hoa chuối... Trong thời kỳ chiến tranh, đặc biệt là trong cuộc chiến tranh Việt Nam, nó là món ăn phổ biến của các đơn vị du kích, bộ đội khi hoạt động ở những vùng rừng núi do không có điều kiện để trồng rau xanh thường xuyên, để tránh bị lộ nơi đóng quân hoặc những lúc hết lương thực.
Trong y học cổ truyền, rau răm bay vẫn được sử dụng như là dược liệu.
Văn chương ca
- Anh sống những tháng năm đầy sôi nổi
- Ẩm thực núi rau tươi, âm nhạc và nhịp điệu súng đạn
- (Về quê hương - Trần Đăng Khoa)
- Cơm nếp dầm đượm, mà cảm thấy như gạo mới
- Rau 'tàu bay' không cần muối cũng trở thành nồi canh...
- (Đêm tháng năm - Văn Thảo Nguyên)
Tên gọi
Trong tài liệu phân loại học thuật bằng tiếng Việt, có nhiều tài liệu đáng tin cậy cho rằng thuật ngữ Rau tàu bay đề cập đến một loài thực vật khác có tên khoa học là Gynura divaricata (một loài thuộc chi Kim thất, có lá xanh mọc thành cụm gần gốc, có rễ giả sâm, lá non có thể dùng làm rau ăn, phân bố nhiều ở Trung Trung Bộ và Tây Nguyên)
Một số hình ảnh về cây rau tàu bay




Chú thích
- Rau tàu bay Lưu trữ 2020-08-08 trên Wayback Machine trong Từ điển bách khoa Việt Nam
Thẻ nhận dạng đơn vị phân loại | |
|---|---|
| Crassocephalum crepidioides |
|
| Gynura crepidioides | |
