
| Curculigo orchioides | |
|---|---|
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Plantae |
| (không phân hạng) | Angiospermae |
| (không phân hạng) | Monocot |
| Bộ (ordo) | Asparagales |
| Họ (familia) | Hypoxidaceae |
| Chi (genus) | Curculigo |
| Loài (species) | C. orchioides |
| Danh pháp hai phần | |
| Curculigo orchioides Gaertn., 1788 | |
| Danh pháp đồng nghĩa | |
| |
Sâm cau, còn được biết đến với các tên gọi khác như cồ nốc lan, ngải cau, nam sáng ton, soọng ca, thài léng, tiên mao (tên khoa học: Curculigo orchioides) là một loại thực vật có hoa thuộc họ Hypoxidaceae. Loài này được Gaertn. mô tả lần đầu tiên vào năm 1788 và có nguồn gốc từ Trung Quốc, Nhật Bản, tiểu lục địa Ấn Độ, Papuasia, Micronesia, và bán đảo Đông Dương.
Đặc điểm
Cây thảo, cao từ 20 đến 30 cm với lá hẹp, tập trung thành cụm từ thân rễ, có hình dạng giống lá cau, dài và hẹp như mũi mác. Thân rễ chính dạng củ, cắm sâu vào đất, thường chia thành đốt rõ ràng, vỏ màu nâu đen, chỉ có một rễ chính không phân nhánh, với nhiều rễ con bám quanh. Thân rễ dài và hình trụ, mang nhiều rễ phụ giống như thân rễ. Lá tập trung thành cụm từ thân rễ, dài 20–30 cm, rộng 2,5–3 cm, có gốc thuôn, đầu nhọn, hai mặt nhẵn gần như đồng màu, gân song song rõ nét; bẹ lá to, dài, cuống lá khoảng 10 cm. Cụm hoa mọc trên cán ngắn ở kẽ lá, có 3 - 5 hoa màu vàng, lá bắc hình trái xoan, đài có 3 răng và lông; tràng hoa 3 cánh nhẵn; nhị 6, sắp xếp thành hai hàng, chỉ nhị ngắn; bầu hình thoi, có lông rậm. Quả nang thuôn dài 1,2 - 1,5 cm, chứa 1 - 4 hạt, phình to ở đầu.
Khu vực phân bố
Sâm cau là loại cây ưa ẩm và ánh sáng, có thể chịu bóng nhẹ, thường mọc ở những vùng đất màu mỡ như thung lũng, chân núi đá vôi hoặc ven các khu vực nương rẫy. Cây phát triển tốt trong mùa mưa ẩm, với thân rễ chính dạng củ, cắm sâu vào đất, và tự mở khi quả chín để phát tán hạt. Sâm cau phân bố ở một số tỉnh miền nam Trung Quốc, Lào, Việt Nam và một số nước Đông Nam Á khác. Tại Việt Nam, cây xuất hiện rải rác ở các tỉnh miền núi như Lai Châu, Tuyên Quang, Cao Bằng, nhưng đã trở nên khan hiếm do khai thác quá mức trước năm 1980 tại Sơn La và Hòa Bình.
- Rễ sâm cau chứa chất Curculigin A, giúp kích thích ham muốn tình dục, tăng cường tần suất và thời gian quan hệ, cũng như sản xuất tinh trùng gấp đôi. Thân và rễ của cây chứa nhiều Curculigin A, là dược liệu tăng cường sinh lý nam gấp 1,5 lần so với các dược liệu tương tự, được coi như 'Viagra' tự nhiên tốt nhất cho nam giới.
- Thân và rễ sâm cau còn chứa cycloartan triterpen saponin, giúp tăng cường sản xuất testosterone, chống co thắt, thư giãn cơ, và hỗ trợ hoạt động của tế bào Leydig trong tinh hoàn – nơi sản xuất testosterone tự nhiên, đồng thời giúp cải thiện các vấn đề về tinh trùng như tinh trùng yếu hoặc kém chuyển động. Để đạt hiệu quả tối ưu, nên kết hợp sâm cau với các dược liệu tương tự như Nhung hươu Bắc Cực. Sự kết hợp này sẽ mang lại tác dụng 'kép' vượt trội, giúp cơ thể cường tráng và sinh lý mạnh mẽ.
Công dụng của sâm cau
Sâm cau có vị cay, ngọt, tính ấm, tác động vào hai kinh Can và Thận.
- Sâm cau có tác dụng ôn thận, tăng cường dương khí, bồi bổ gân cốt, cố tinh, làm giảm cảm giác lạnh, giảm tê mỏi chân tay, và đau nhức xương khớp cho cả nam và nữ.
- Đặc trị các chứng thận dương yếu, liệt dương, lạnh kinh niên, viêm khớp, và đau do lạnh. Tuy nhiên, sử dụng sâm cau liều cao trong thời gian dài có thể gây cường dương, làm hao tinh lực, không nên dùng cho người suy nhược. Sâm cau thường được dùng để bồi bổ, pha trà uống hàng ngày, giúp tinh thần tỉnh táo, tăng cường gân cốt, và làm đen râu tóc.
- Sâm cau có độc tính, nên khi chế biến cần rửa sạch và ngâm với nước vo gạo để giảm độc. Ở một số nơi, thân rễ sâm cau còn được dùng để gây sảy thai.
Ứng dụng của sâm cau trong y học
Mỗi ngày có thể sắc 10g sâm cau để sử dụng hoặc ngâm vào rượu để uống 1 chén mỗi ngày. Để điều trị chứng đau nhức do hàn thấp, sử dụng sâm cau chưa qua sao tẩm. Đối với trường hợp liệt dương do thận hư, tiểu tiện nhiều lần hoặc són tiểu, hãy tẩm sâm cau với rượu rồi sao để tăng hiệu quả bổ dương.
Sâm cau giả mạo
Trên thị trường hiện có một loại củ được gọi là sâm cau đỏ. Tuy nhiên, đây không phải là sâm cau (tiên mao) mà chỉ là một loại dược liệu khác chưa được nghiên cứu cụ thể.
Kênh truyền hình kỹ thuật số VTC đã thực hiện một phóng sự về việc tìm kiếm loại cây 'sâm cau đỏ' này [1]
Một số tài liệu có sự nhầm lẫn giữa cây gọi là 'sâm cau đỏ' với cây bồng bồng.

Cây 'sâm cau đỏ' có lá to và dày hơn so với cây bồng bồng (Dracaena angustifolia Roxb), loài có lá nhỏ hơn và nhiều lớp hơn.

Cây bồng bồng mọc tự nhiên ở nhiều khu vực trên cả nước và thường được trồng làm cảnh. Ngoài ra, một loài cây khác cũng được gọi là sâm cau đỏ, tên khoa học là *Dracaena cochinchinensis*, còn được biết đến với tên Huyết giác Nam Bộ và đôi khi cũng được gọi là cây bồng bồng. Trong y học cổ truyền, cây bồng bồng được sử dụng để điều trị lỵ ra máu (dùng rễ, hoa), nhuận tràng, lợi tiểu, và bạch đới.
Cho đến nay, cả hai loài này trong y học cổ truyền chưa có nghiên cứu khoa học nào chứng minh tác dụng cường dương như quảng cáo của thương lái. Thậm chí, rễ cây bồng bồng có thể gây độc hại cho cơ thể.
Chú thích
Liên kết ngoài
- Tài liệu liên quan đến Curculigo orchioides có tại Wikimedia Commons
- Thông tin về Curculigo orchioides có tại Wikispecies
- Vườn thực vật Hoàng gia Kew; Đại học Harvard; Australian Plant Name Index (biên soạn). “Curculigo orchioides”. International Plant Names Index. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2013.
