Sáng tạo viết là hệ thống các ký hiệu để ghi lại ngôn ngữ theo dạng văn bản, là sự miêu tả ngôn ngữ thông qua việc sử dụng các ký hiệu hay các biểu tượng. Nó phân biệt với sự minh họa như các phác họa trong hang động hay các tranh vẽ, đây là các dạng ghi lại ngôn ngữ theo các phương tiện truyền đạt phi văn bản, ví dụ như các băng từ tính trong các đĩa âm thanh. Sáng tạo viết có quan hệ mật thiết với ngôn ngữ nhưng không đồng nhất với ngôn ngữ. Người ta có thể không biết sáng tạo viết nhưng vẫn có ngôn ngữ để giao tiếp. Nhiều dân tộc có ngôn ngữ riêng nhưng vẫn chưa có sáng tạo viết.
Lịch sử
Sáng tạo viết cách đây hàng ngàn năm, trước khi có bút, bút chì hay giấy, mực. Các sáng tạo viết đầu tiên được xuất hiện ở trên các bức vách trong hang động của người tiền sử, xuất hiện ở các bức vẽ.
Sáng tạo viết-phương tiện ghi lại thông tin
Với sự phát triển lịch sử của xã hội loài người, chữ viết đóng vai trò vô cùng quan trọng. Chữ viết là phương tiện ghi lại thông tin; nếu không có chữ viết, không thể có sách, các phát minh và thành tựu của tổ tiên cũng không thể được truyền lại.
Âm thanh hay lời nói chỉ là vỏ bọc vật chất của ngôn ngữ và vẫn có những hạn chế nhất định, có giới hạn, không thể truyền đạt rộng rãi và chính xác, lưu giữ lâu dài như chữ viết. Âm thanh bị hạn chế bởi khoảng cách và thời gian theo kiểu 'tam sao thất bản'. Chữ viết khắc phục được những điểm trên là phương tiện hoàn hảo để truyền đạt thông tin, lưu giữ thông tin, kích thích sự sáng tạo và là một thành tựu kỳ diệu, vĩ đại của loài người.
Hệ chữ viết
Các hệ chữ viết có thể được phân loại thành bốn loại sau: hệ chữ ngữ tố (tượng hình), hệ chữ âm tiết, bảng chữ cái và hệ chữ đặc trưng (en).
Hệ chữ tượng hình
Một bảng chữ tượng hình hay chữ ngữ tố (logography) được hình thành từ nhiều ký hiệu văn tự có đặc điểm là mỗi ký hiệu biểu thị toàn bộ một từ, một âm tiết hoặc một ngữ tố, được gọi là chữ ngữ tố. Ví dụ, trong bảng chữ tượng hình Maya, ký hiệu tượng hình biểu nghĩa 'vây cá' (phát âm là ka) cũng được sử dụng để biểu thị âm tiết ka bất kỳ khi cần chỉ ra cách phát âm của một ký hiệu tượng hình khác. Một số chữ ngữ tố có thêm phần biểu ý, như các 'bộ thủ' trong chữ Hán và các từ hạn định trong chữ tượng hình Ai Cập. Khoảng 90% các chữ Hán được cấu thành từ một phần biểu ý (bộ thủ) và một phần biểu âm (chữ Hán có sẵn).
Ngày nay, hệ chữ ngữ tố chính được sử dụng là chữ Hán. Các hệ chữ ngữ tố từng được sử dụng mà nay đã bị lãng quên bao gồm chữ hình nêm, chữ tượng hình Maya, v.v...
Hệ chữ âm tiết
Một bảng chữ âm tiết là tập hợp các ký hiệu văn tự biểu thị một âm tiết (phụ âm-nguyên âm hoặc chỉ một phụ âm). Một số bảng chữ âm tiết còn có các ký hiệu đặc biệt cho những âm tiết phức tạp (phụ âm-nguyên âm-phụ âm hoặc phụ âm-phụ âm-nguyên âm). Các âm tiết có cùng ngữ âm không được biểu thị bằng các ký hiệu chữ âm tiết giống nhau. Ví dụ, ký hiệu chữ âm tiết biểu thị âm 'ka' sẽ khác với ký hiệu chữ âm tiết biểu thị âm 'ki'.
Hệ chữ âm tiết phù hợp với các ngôn ngữ có cấu trúc âm tiết tương đối đơn giản. Tiếng Nhật là một ví dụ điển hình. Bảng chữ âm tiết cũng được sử dụng cho các ngôn ngữ khác như bảng chữ Linear B của tiếng Hy Lạp thời Mycenae, bảng chữ âm tiết Cherokee, bảng chữ âm tiết Ndjuka dành cho tiếng Creole Suriname và bảng chữ âm tiết Vai dùng tại Liberia.
Bảng chữ cái
Bảng chữ cái là một tập hợp các ký hiệu văn tự biểu thị một nguyên âm hoặc một phụ âm. Trong một bảng chữ cái lý tưởng, các chữ cái tương ứng hoàn toàn với các âm tiết của một ngôn ngữ, cho phép dự đoán cách đánh vần một từ chỉ qua cách phát âm của nó. Tuy nhiên, sự phát triển của ngôn ngữ thường không đồng bộ với sự phát triển của hệ chữ viết, và các hệ chữ viết thường được mượn từ các ngôn ngữ khác với mục đích khác nhau, dẫn đến mức độ tương ứng giữa các chữ cái trong bảng chữ cái với âm vị của một ngôn ngữ khác nhau, thậm chí trong cùng một ngôn ngữ cũng có sự khác biệt.
Đôi khi thuật ngữ 'bảng chữ cái' được sử dụng để chỉ các hệ chữ viết có các chữ cái riêng biệt cho từng nguyên âm và phụ âm (ví dụ như bảng chữ cái Latin), mặc dù các bảng chữ abugida và abjad cũng được coi là bảng chữ cái. Với định nghĩa hẹp này, bảng chữ cái Hy Lạp được xem là bảng chữ cái sớm nhất.
Abjad
Hầu hết các hệ chữ cái được sử dụng ở khu vực Trung Đông thường chỉ viết phụ âm, mặc dù có thể sử dụng các dấu phụ để biểu thị nguyên âm. Các bảng chữ cái như vậy bắt nguồn từ các bảng chữ cái cổ xưa từ Ai Cập cổ đại và được gọi là abjad hoặc consonantary (hệ chữ phụ âm).
Abugida
Đa số các bảng chữ cái của các ngôn ngữ sử dụng tại Ấn Độ và Đông Nam Á biểu thị nguyên âm bằng cách sử dụng các dấu phụ hoặc biến đổi hình dạng của phụ âm. Các bảng chữ cái như vậy được gọi là abugida. Một số bảng chữ abugida của các ngôn ngữ Ethiopia hoặc Cree (Canada) được xem là các bảng chữ âm tiết trong giáo dục cho trẻ nhỏ. Tuy nhiên, khác với các bảng chữ âm tiết, các bảng chữ abugida không có các ký tự độc lập cho mỗi âm tiết.
Hệ chữ đặc trưng
Một hệ chữ đặc trưng (featural script) biểu diễn các đặc điểm âm vị của một ngôn ngữ một cách nhất quán. Ví dụ như trong hệ chữ hangul của Hàn Quốc, tất cả các ký tự âm đôi môi đều có các yếu tố tương tự nhau (ㅁ m [m], ㅂ b [p], ㅍ p [pʰ], ㅃ pp [p͈]). Trong giáo dục, hangul được coi là một bảng chữ cái và các yếu tố đặc trưng thường không được chú ý đến.
Một hệ chữ đặc trưng khác là SignWriting. Đây là hệ chữ phổ biến nhất dùng để viết các ngôn ngữ ký hiệu bằng cách hình dung các hình dạng và chuyển động của bàn tay và mặt. Hệ chữ đặc trưng còn được ứng dụng nhiều trong việc sáng tạo các hệ chữ viết giả tưởng, ví dụ như hệ chữ Tengwar của tác giả J.R.R. Tolkien.
- Lịch sử của Việc Viết
- Một Lịch Sử Của Viết: Từ Hình Ảnh Đến Đa Phương Tiện, biên tập bởi Anne-Marie Christin, Flammarion Lưu trữ 2003-08-12 tại Wayback Machine (bằng tiếng Pháp, bìa cứng: 408 trang, 2002, ISBN 2-08-010887-5)
- Vào Đầu: Một Lịch Sử Ngắn Ngày Ngôn Ngữ Hê-bơ-rơ. Lưu trữ 2015-11-25 tại Wayback Machine bởi Joel M. Hoffman, 2004. Chương 3 Lưu trữ 2009-04-12 tại Wayback Machine đề cập đến sự phát minh viết và các giai đoạn khác nhau của nó.
- Xuất Xứ của Viết trên AncientScripts.com
- Bảo tàng Viết Lưu trữ 2006-04-24 tại Wayback Machine: Bảo tàng Viết của Anh với thông tin về lịch sử viết và dụng cụ
- Trên ERIC Digests: Hướng Dẫn Viết: Các Thực Hành Hiện Tại trong Lớp Học Lưu trữ 2016-03-04 tại Wayback Machine; Phát Triển Viết Lưu trữ 2004-04-15 tại Wayback Machine; Hướng Dẫn Viết: Các Quan Điểm Thay Đổi Qua Các Năm Lưu trữ 2016-03-04 tại Wayback Machine
- Con Cái của Mã: Sức Mạnh của Viết - Video Trực Tuyến
- Rogers, Henry. 2005. Hệ Thống Viết: Một Tiếp Cận Ngôn Ngữ Học. Oxford: Blackwell. ISBN 0-631-23463-2 (bìa cứng); ISBN 0-631-23464-0 (bìa mềm)
- Ankerl, Guy. 2000. Các Nền Văn Minh Đương Thời Sống Cùng Nhau: Hồi Giáo Ả Rập, Bharati, Trung Quốc và Tây. Geneva: INU Press, ISBN 2-88155-004-5, tr. 59–66, 235s.
Liên kết bên ngoài
- Tại sao viết? - một lịch sử của viết và bảng chữ cái từ Thư viện Anh
- Lịch sử của hệ thống chữ viết
- Lịch sử chữ Hán
- Lịch sử các loại chữ viết Việt Nam
