| Sim | |
|---|---|
| Tình trạng bảo tồn | |
Ít quan tâm (IUCN 3.1) | |
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Plantae |
| (không phân hạng) | Angiospermae |
| (không phân hạng) | Eudicots |
| (không phân hạng) | Rosids |
| Bộ (ordo) | Myrtales |
| Họ (familia) | Myrtaceae |
| Phân họ (subfamilia) | Myrtoideae |
| Tông (tribus) | Myrteae |
| Phân tông (subtribus) | Decasperminae |
| Chi (genus) | Rhodomyrtus |
| Loài (species) | R. tomentosa |
| Danh pháp hai phần | |
| Rhodomyrtus tomentosa (Aiton) Hassk., 1842 | |
| Danh pháp đồng nghĩa | |
| |
Sim, còn được gọi là hồng sim, đào kim nương, cương nẫm, đương lê (tên khoa học: Rhodomyrtus tomentosa) là một loài thực vật có hoa thuộc họ Myrtaceae.
Trong tiếng Trung, các tên gọi của nó bao gồm: 桃金娘 (đào kim nương), 岗稔 (cương nẫm/nhẫm), 山稔 (sơn nẫm/nhẫm), 稔子 (nẫm/nhẫm tử), 当梨 (đang/đương lê), 山乳 (sơn nhũ), 崗菍 (cương nẫm), 金絲桃 (kim ti đào), 白碾子 (bạch niễn tử), 多奶 (đa nãi) và 乌多尼 (ô đa ni, tại Triều Sán).
Lịch sử phân loại
Năm 1789, William Aiton đã mô tả loài này với mẫu cây đưa vào Vườn Thực vật Hoàng gia tại Kew vào năm 1776 dưới tên gọi Myrtus tomentosa. Đến năm 1828, Augustin Pyramus de Candolle đã tạo lập tổ (sectio) Rhodomyrtus trong chi Myrtus, với M. tomentosa là thành viên đầu tiên của tổ này. Vào năm 1841, Ludwig Reichenbach đã nâng cấp tổ Rhodomyrtus thành chi riêng biệt, nhưng không tạo ra tên gọi mới cho M. tomentosa. Đến năm 1842, Justus Carl Hasskarl đã thiết lập danh pháp mới cho M. tomentosa là Rhodomyrtus tomentosa.
Lưu ý rằng vào tháng 2 năm 1908, Bulletin de la Société Botanique de France đã công bố danh pháp Myrtus tomentosus [sic] của Auguste François Marie Glaziou (1828-1906) cho một loài cây bụi có hoa màu trắng và quả xanh lục xuất hiện vào tháng 9-10, ở Corrego do Brejo - miền trung Brasil. Tuy nhiên, loài này không phải là R. tomentosa được đề cập ở đây.
Phân bố
Loài này có nguồn gốc từ các khu vực phía nam và đông nam châu Á, từ Ấn Độ và Sri Lanka về phía đông tới miền nam Trung Quốc (Chiết Giang, Giang Tây, nam Hồ Nam, Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu, nam Vân Nam), Đài Loan, quần đảo Lưu Cầu, Philippines, và về phía nam tới Malaysia và Sulawesi. Hiện nay, loài này cũng đã xuất hiện ở Hoa Kỳ (Florida và Hawaii) và Polynésie thuộc Pháp (quần đảo Société). R. tomentosa thường mọc ở các vùng ven biển, rừng tự nhiên, ven sông suối, rừng ngập nước, rừng ẩm ướt, đầm lầy, cây bụi, sườn núi, đồi thấp và trảng cỏ, với độ cao lên đến 2.400 m so với mực nước biển.
Các thứ
R. tomentosa được chia thành 2 thứ, bao gồm:
- R. tomentosa var. parviflora (Alston) A.J.Scott, 1978 (tên đồng nghĩa: Rhodomyrtus parviflora Alston, 1931): Xuất hiện ở miền nam Ấn Độ và Sri Lanka. Đây là loại cây bụi hoặc cây gỗ, thường gặp trong các khu vực nhiệt đới khô mùa.
- R. tomentosa var. tomentosa (tên đồng nghĩa: Myrtus canescens Lour., 1790): Loài chính. Phân bố ngoài khu vực đã nêu. Loài này cũng là cây bụi hoặc cây gỗ, phát triển chủ yếu trong các khu vực nhiệt đới ẩm ướt.
Mô tả
Cây bụi thường xanh, có kích thước lớn, cao từ 1-2 m. Cành non phủ lông măng màu xám. Lá mọc đối; cuống lá dài từ 4-7 mm; phiến lá hình elip đến hình trứng ngược, kích thước 3-8 × 1-4 cm, có kết cấu da, lông tơ khi còn non nhưng trở nên nhẵn và bóng khi trưởng thành. Mặt xa trục có lông măng màu xám, gân phụ 1 ở mỗi bên của gân giữa, bắt nguồn gần đáy phiến lá và hợp lại ở đỉnh, gân tam cấp 4-6 ở mỗi bên của gân giữa nối gân giữa với các gân phụ, các gân mắt lưới rõ ràng, các gân bên trong mép lá cách mép lá 3-4 mm, đáy lá hình nêm rộng, đỉnh lá thuôn tròn đến tù và thường có khía hoặc đôi khi nhọn đột ngột. Hoa mọc đơn hoặc 1-3 hoa trên cuống, đường kính từ 2-4 cm. Chén hoa hình trứng ngược, khoảng 6 mm, phủ lông măng màu xám. Thùy đài hoa 5, gần tròn, dài 4-5 mm, bền. Cánh hoa 5, màu tím, hình trứng ngược, dài 1,3-2 cm. Nhị màu đỏ, dài 7-8 mm. Bầu nhụy có 3 (hoặc 4) ngăn. Vòi nhụy dài khoảng 1 cm. Quả mọng khi chín có màu đen ánh tía, hình vạc, kích thước 1,5-2 × 1-1,5 cm. Hoa vào tháng 4-5, quả chín vào tháng 8-10, thịt quả màu đỏ, vị ngọt, có thể ăn được.
Sử dụng
Rễ, lá và trái của cây sim được sử dụng làm thuốc trong y học cổ truyền Việt Nam và Trung Quốc, có tác dụng bổ huyết và an thai. Ở Trung Quốc, sim được ghi chép trong Bản thảo cương mục với hai vị thuốc: trái gọi là đào kim nương hoặc sơn niệm tử, còn rễ gọi là sơn niệm căn. Sim có vị ngọt-chát, tính bình, giúp hoạt huyết thông lạc và thu liễm chỉ tả. Quả sim thường được cư dân miền núi hái để ăn chơi, và trước đây cũng được bán tại chợ. Ở Phú Quốc, quả sim được khai thác để chế biến thành các đặc sản như mật sim hoặc rượu sim.
Hoa sim trong nghệ thuật

Hoa sim thường nở rực rỡ vào mùa hè với sắc tím đặc trưng. Nó không chỉ là biểu tượng của tình yêu và sự trung thành mà còn là nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm nghệ thuật. Tại Việt Nam, hoa sim đã trở thành cảm hứng cho nhiều nhà thơ và nhạc sĩ. Bài thơ nổi tiếng 'Màu tím hoa sim' của Hữu Loan đã truyền cảm hứng cho nhiều ca khúc, chẳng hạn như:
- 'Áo anh sứt chỉ đường tà' (Phạm Duy)
- 'Chuyện hoa sim', 'Tím cả chiều hoang' (Anh Bằng)
- 'Màu tím hoa sim' (Duy Khánh & Trọng Khương)
- 'Những đồi hoa sim' (Dzũng Chinh)
Kể từ đó, hoa sim đã trở thành một hình ảnh quen thuộc và được yêu thích trong các sáng tác âm nhạc.
- 'Chiều bên đồi sim' (Đài Phương Trang)
- 'Chuyện người con gái hái sim' (Hồng Vân)
- 'Về lại đồi sim' (Đinh Trầm Ca & Mã Thu Giang)
Thư viện ảnh

Chú thích
Liên kết ngoài
- Thông tin về Rhodomyrtus tomentosa trên Wikispecies
- Tài liệu về Rhodomyrtus tomentosa trên Wikimedia Commons
Thẻ nhận dạng đơn vị phân loại | |
|---|---|
| Rhodomyrtus tomentosa |
|
| Myrtus tomentosa |
|
