
Nhiều bạn bè của tôi là những học sinh xuất sắc. Tôi nhớ rõ Minh Tý, thủ khoa Đại học Bách Khoa, có lẽ là người duy nhất trong thế hệ của tôi đạt 30 điểm thi đại học. Bạn cùng lớp như Việt “từ” đạt 29 điểm, Bình “trẩu” được 29,5 điểm, hay Phú Bình, bạn thân của tôi, thủ khoa Ngân hàng với 28 điểm. Rất nhiều bạn khác, có lẽ hàng chục người, đều học giỏi và đi du học nước ngoài, chủ yếu là Nga, Ba Lan, Hungary... Họ được coi là nhân tài tương lai của đất nước, làm cha mẹ tự hào và nhận được nhiều kỳ vọng.
Những thành tích của bạn bè khiến tôi vừa buồn vừa ganh tị và bất mãn. Từng là niềm tự hào, nhưng chỉ sau một kỳ thi đại học với điểm thấp, tôi bị coi thường, phủ nhận và bị nói rằng sẽ thất bại, không làm nên trò trống gì. Tôi chạnh lòng và hối tiếc vì sao mình không ở trong số đó, dù tôi hoàn toàn có khả năng. Tôi cảm thấy bất công khi không được ghi nhận như họ. Những ước mơ khác biệt của tôi bị coi là vớ vẩn, ngớ ngẩn. Bố mẹ tôi cũng rất buồn vì con trai mình.
Tuy nhiên, càng về sau, tôi mới nhận ra rằng cuộc đời không đơn giản như vậy. Đa số bạn bè cùng lứa của tôi, những người đi du học, có thể coi là một thế hệ thất bại. Sự thất bại này không chỉ đối với cá nhân mà là thất bại chung của cả thế hệ. Khi đất nước chọn những người ưu tú nhất để đi du học, chỉ khoảng 20-30% trong số họ thực sự thành công. Nhiều người khi trở về đã bỏ nghề, chuyển sang buôn bán để kiếm sống, ít người trở thành những học giả nghiêm túc.
Đầu tiên là vì hoàn cảnh. Khi bạn bè tôi sang Đông Âu, họ rơi vào một tình cảnh vô cùng đặc biệt khi các nước Đông Âu đang xáo trộn. Sự hỗ trợ lý tưởng mà các thế hệ trước được nhận thì bạn bè tôi không có. Tưởng chừng được học ở môi trường tốt nhất nhưng khi họ sang, trường học lại biến động. Lâm và nhiều bạn kể rằng khi mới sang, những khoản tiền chu cấp 100-200 Rup trước đó đủ sống thì giờ giá trị đã thay đổi. Tiền không đủ sống, tiền ở nhà cũng không kịp gửi sang, nên cả đám phải bỏ học đi bán quần áo kiếm tiền.
Lâm kể rằng có những ngày gian truân rét mướt, nó phải ôm những chồng quần áo đi bán ở các tỉnh lẻ, theo tàu điện, rồi bày bán quần áo ở vỉa hè, dưới đất... và bị người Ba Lan coi thường. Đó lại là những người ưu tú nhất của đất nước, những người giỏi nhất, thật cay đắng. Thay vì vào thư viện, trường học, phòng thí nghiệm, họ lại ra ngoài đường bán quần áo, làm những công việc buôn bán vận chuyển như cửu vạn...
[…]
Nghĩ lại hồi đó, tôi cảm thấy thật cay đắng cho thế hệ mình. Những người có khả năng và điều kiện đóng góp nhiều hơn lại phải đối mặt với khó khăn khi bước chân vào môi trường Đông Âu đầy biến động. Hơn nữa, có lẽ do còn trẻ quá nên họ không thích nghi được với môi trường.
Xa hơn nữa, khi trở về, họ cũng không được trọng dụng, và cũng không có thành tựu gì đáng kể cho quê hương. Cả lứa chúng tôi không có mấy người theo ngành khoa học nghiên cứu. Những người giỏi nhất, được kỳ vọng, được gia đình trông đợi, lại không trở về. Giờ nói về thành đạt, hầu hết đều có chút ít tiền, có xe cộ, nhà cửa, nhưng không có mấy người theo đuổi sự nghiệp học vấn để trở thành giáo sư hay có những đóng góp đáng kể cho đất nước.
[…]
Tôi định nghĩa lứa chúng tôi là những người sinh năm 1965-1975, sinh vào giai đoạn chiến tranh nhưng trưởng thành khi đất nước thống nhất. Chúng tôi nhận thức về xã hội, thế giới khi 15-17 tuổi, đủ lớn để nhớ về thời bao cấp, về xã hội đóng cửa, nhưng khi trưởng thành lại được chứng kiến sự biến chuyển của xã hội. Chúng tôi vừa chập chững bước ra đời đúng vào thời điểm đất nước thay đổi, kinh tế khủng hoảng, những quan điểm sống cũ thay đổi, những giá trị cũ bị tan vỡ, tất cả đều chỉ quan tâm đến tiền.
Có lẽ những người tận dụng tốt nhất thời cơ mở cửa ở Việt Nam những năm 1986 – 1990 phải là những người khi đó khoảng 30 tuổi, đủ chín nhưng không quá già để tận dụng cơ hội kiếm tiền, không bị quá ràng buộc vào nhà nước hoặc không quá cũ để tự thay đổi mình. Thế hệ đó là những người sinh khoảng giai đoạn 1955 – 1960. Ngày hôm nay, hầu hết những người đang nắm giữ các tập đoàn lớn, doanh nghiệp lớn, tổ chức lớn tại Việt Nam đều thuộc thế hệ này.
Còn thế hệ chúng tôi, thật trớ trêu, những người bạn đi học nước ngoài tử tế, bài bản với mục tiêu trở thành nhà khoa học sớm tiếp xúc với thị trường. Người ở nhà thì bạc nhược, mất phương hướng, rồi lao vào việc kiếm tiền, làm giàu.
[…]
Hiện tại, những người bạn của tôi đều gần 50 tuổi, nhiều người đã rất thành đạt, tự lập và chăm lo cho gia đình một cuộc sống đầy đủ, không còn phải lo nghĩ quá nhiều về vật chất. Tuy nhiên, tôi nhận thấy ở nhiều người trong số đó một sự thiếu thốn tinh thần, họ gần như không còn khát khao đóng góp cho xã hội, không còn nhiệt huyết tranh đấu, và dường như bây giờ mới bắt đầu đi tìm kiếm ý nghĩa thực sự của cuộc đời mình. Điều gì đã khiến chúng tôi đi theo những con đường mà không ai nghĩ mình sẽ đi như vậy? Có lẽ đó là sự thay đổi của thời đại, sự hoang mang về lý tưởng sống đúng vào lúc chúng tôi vừa bước chân vào đời...
Tôi gọi thế hệ của chúng tôi là thế hệ mất mát. Có thể cách gọi này không đúng với nhiều người, vì nhiều bạn bè của tôi không nghĩ như vậy. Nhiều người bạn của tôi vẫn thành công, có những doanh nhân lập nghiệp tốt, đóng góp cho xã hội; nhiều người khác trở thành các giáo sư, tiến sĩ với nhiều công trình quan trọng... Nhưng với tôi, chúng tôi vẫn là một thế hệ mất mát. Nếu những thế hệ trước chúng tôi có một niềm tin, một lý tưởng, và những thế hệ sau này cũng có niềm tin khác, thì chúng tôi lại bấp bênh ở giữa...
- Trích từ tự truyện 'Sinh năm 1972 - Khát vọng sống' của Chủ tịch HĐQT Alpha Books Nguyễn Cảnh Bình -
