1. Bài soạn số 1
2. Bài soạn số 2
SOẠN BÀI ÂM THANH TỪ CON TÀU, ngắn 1
CHẾ LAN VIÊN - HỒN NHẠC SĨ VIỆT NAM
A. NỀN TẢNG KIẾN THỨC
I. SỨC SỐNG VÀ SỰ NGHIỆP:
1. Hành Trình Đầy Nhiệt Huyết
- Chế Lan Viên (1920 – 1989) tên thật là Phan Ngọc Hoan, xuất thân từ xã Cam An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.
- Trong thời thơ ấu, Chế Lan Viên sinh sống ở Bình Định. Sau khi hoàn thành trung học, ông theo học và làm việc cho các tờ báo ở Sài Gòn và các tỉnh miền Trung.
2. Sự Nghiệp Văn Học
- Các tập thơ: Tiếng Nói Dịu Dàng (1937), Ánh Sáng và Hương Thơm (1960), Hoa Ngày Thường, Chim Vang Tiếng Bão (1967), Những Bài Thơ Đánh Bại Kẻ Thù (1972), Hoa Trên Đỉnh Đá (1984), ...
- Các tập tiểu luận phê bình: Nhận Xét Văn Học (1962), Tư Duy và Đánh Giá (1971), Từ Gác Khuê Văn đến Quán Trung Tân (1981), Nghỉ Ngơi Bên Dòng Thơ (1981),
3. Đặc Điểm Phong Cách
- Trước Cách mạng tháng Tám 1945, thơ của Chế Lan Viên hiện hình phong cách, bí ẩn, và đắm chìm trong tình khói của thời kỳ 'Điêu tàn', nơi có xương cốt, máu chảy, và những hình ảnh của tháp Chàm. Các tháp Chàm 'điêu tàn' là nguồn cảm hứng lớn mà Chế Lan Viên lựa chọn, qua những phần đổ nát trong thơ, ta có thể nhìn thấy bóng hình của một đế chế mạnh mẽ từ thời vàng son, đồng thời, cảm nhận niềm hoài cổ của nhà thơ.
– Sau Cách mạng, thơ của ông dần chuyển hướng đến cuộc sống của nhân dân và đất nước, thấm nhuần ánh sáng của cách mạng, và có những thay đổi đáng kể. Trong giai đoạn 1960 – 1975, thơ của Chế Lan Viên có những cố gắng hướng tới thể loại sử thi hùng tráng, chất lượng luận, và thấu hiểu sâu sắc về thời sự.
- Sau năm 1975, thơ của Chế Lan Viên quay trở lại cuộc sống thường ngày và những suy tư về bản thân trong một thế giới phức tạp, đa chiều, và phong phú.
- Phong cách thơ nổi bật nhất của Chế Lan Viên là sự kết hợp tinh tế giữa suy nghĩ triết học và tình cảm, thể hiện qua hình ảnh thơ đa dạng và sáng tạo, được sáng tạo bởi bút tài thông minh và tài năng của ông.
II. TÁC PHẨM TIẾNG HÁT CON TÀU.
1. Bối Cảnh Sáng Tác
- Trong giai đoạn 1958 – 1960, Đảng và Nhà nước đã kêu gọi nhân dân tham gia xây dựng khu vực kinh tế mới tại Tây Bắc. Sự kiện chính trị xã hội này là điểm xuất phát phổ biến mà Chế Lan Viên khai thác trong thơ của mình.
- Tuy nhiên, Tiếng hát con tàu chủ yếu là cuộc hành trình của tác giả để khám phá chính bản thân mình. Đồng thời, bài thơ còn là giai điệu hát về lòng biết ơn, tình yêu, và sự liên kết với nhân dân, với đất nước, của một tâm hồn thơ đã tìm thấy nguồn cảm hứng mới và đỉnh cao nghệ thuật của mình.
2. Kết Cấu
Bài thơ có thể phân thành ba đoạn:
Đoạn 1 (hai khổ thơ đầu): Kêu gọi hành trình.
Đoạn 2 (chín khổ thơ tiếp theo): Trở về Tây Bắc là quay về chính mình, với nhân dân, với cuộc chiến tranh.
Đoạn 3 (phần còn lại): Khúc hát lên đường.
3. Giá Trị Nội Dung, Nghệ Thuật
- Tiêu đề Tiếng hát con tàu có ý nghĩa biểu tượng. Trong thực tế, khi bài thơ được sáng tác, chưa có đường tàu nào đến Tây Bắc. Do đó, con tàu ở đây biểu tượng cho khao khát khám phá, vươn tới những vùng đất xa xôi, đến với nhân dân và đất nước.
- Con tàu cũng là biểu tượng của tâm hồn nhà thơ, ước muốn tìm kiếm nguồn cảm hứng nghệ thuật chân thực nhất.
- Địa danh Tây Bắc không chỉ thể hiện ý nghĩa vị thực mà còn đại diện cho Tổ quốc, nhân dân, và nguồn cảm hứng nghệ thuật. Điều này được thể hiện rõ trong bốn dòng thơ đề từ của bài:
Tây Bắc ơ? Có gì đặc biệt ở Tây Bắc
Khi tâm hồn ta đã trở thành những chiếc tàu
Khi Tổ quốc nói lên lời hát từ bốn phương
Tâm hồn ta chính là Tây Bắc, không gì khác nữa
– Bắt đầu bài thơ là những suy nghĩ nặng nề, nhà thơ chia sẻ với mọi người cũng như với chính bản thân:
Bạn bè đi xa anh giữ bầu trời Hà Nội
Anh có nghe gió ngàn rì rào gọi
Tàu kêu anh đi, tại sao chưa rời bỏ?
– Hình thức của những dòng thơ giống như những câu hỏi liên tiếp, tạo nên sức mạnh gọi mời lớn. .
- Ý thơ cũng khẳng định mối liên kết giữa sự sáng tạo nghệ thuật và cuộc sống: Không có bài thơ nào trong lòng thành phố bao giờ đủ | Tâm hồn anh đợi chờ anh trên cao.
- Đoạn thứ hai của bài thơ tập trung mô tả niềm hạnh phúc, niềm vui tột cùng khi trở về với nhân dân, tác giả sử dụng những hình ảnh so sánh sôi động:
Con gặp lại nhân dân như nai về suối xanh
Cỏ đón giêng hai, chim én đón mùa
Như đứa trẻ thơ đón sữa khi đói
Chiếc nôi ngừng bỗng đón cánh tay ân cần.
- Đối với Chế Lan Viên, việc trở về với nhân dân không chỉ là ước mơ và niềm vui mà còn là một lẽ tự nhiên phù hợp với quy luật. Trở về với nhân dân là trở về với nguồn cảm hứng bất tận, thiêng liêng của sự sáng tạo trong mỗi con người. Nghệ thuật là việc quay về với những trải nghiệm đau đáu và gắn bó nhất trong cuộc sống.
- Khát khao trở về với nhân dân được tác giả biểu hiện như là sự quay về với người anh đồng đội, người em thân thiết. Đặc biệt là sự trở về với Mẹ yêu thương:
Con nhớ mẹ? Lửa lòng sưởi ấm mái tóc bạc
Năm tháng đau khổ, mẹ bền chí qua từng mùa
Con với mẹ không chỉ là một giọt máu chung
Nhưng suốt đời con sẽ nhớ ơn mẹ mãi mãi.
- Đọc những câu thơ trên của Chế Lan Viên, ta cảm nhận nhân vật chân thành đang chia sẻ tâm sự của nhiều người lính khác. Sự tận tâm của người mẹ chiến sĩ không chỉ là tình cảm cá nhân. Nhà thơ hòa mình vào tâm tư của người chiến sĩ, chung sống trong biển ơn nghĩa sâu sắc của nhân dân.
- Việc lên Tây Bắc là sự trở về, Chế Lan Viên đưa độc giả trở lại với em gái thân yêu, đến với tình yêu ngọt ngào của đôi trai gái hồn nhiên. Nhưng sau cùng, khi chia ly:
Khi ta đến, chỉ là chốn nhà ở
Khi ta đi, lòng đất trở thành tâm hồn.
- Tình yêu là động lực mạnh mẽ tạo nên cuộc sống, là nguồn động viên cho những điều kỳ diệu và phi thường. Tình yêu là nguồn cảm hứng sáng tạo, là lực lượng thay đổi. Chế Lan Viên sử dụng so sánh táo bạo, hình ảnh mới lạ để ca ngợi sức mạnh của tình yêu:
Anh đột nhiên nhớ em như lạnh rét
Tình yêu ta như cánh kiến và hoa vàng
Như mùa xuân đến, chim rừng trở nên đẹp
Tình yêu làm cho đất trở thành quê hương
- Đoạn thứ ba của bài thơ như một khúc hát vui tươi, nhanh nhẹn. Lòng người đã thật sự sẵn sàng lên đường, không còn những nỗi lo lắng như trước, vì: Đất nước kêu gọi ta và trái tim ta cũng kêu gọi. Lòng người tự nguyện lên đường.
Trong không khí phấn khích của chiến thắng, mái ngói đỏ rực rỡ, mùa lúa bội thu, biển người lao động đang làm việc chăm chỉ, nhà thơ hồi tưởng về những ngày đau khổ:
Nhựa nóng mười năm, máu đỏ rơi trên đất
Tây Bắc ơi, bạn là mẹ của tâm hồn thơ,
Mười năm chiến tranh nặng nề, ta chịu đựng trong lửa,
Nay quay trở lại, ta khắc sâu lấy chính mình. .
- Nhịp thơ hối hả gợi lên bức tranh của đoàn tàu vụt qua. Mục tiêu của sự xây dựng, hòa nhập cuộc sống, tình người bắt đầu hiện hình. Khung cảnh huy hoàng khiến nhà thơ say đắm:
Dám mơ! Ai nói rằng con tàu không mơ ước?
Mỗi đêm, không còn một vầng trăng bị bỏ lỡ.
Lòng ta giống như chính con tàu, ta cũng say mê.
Khuôn mặt hồng em hiện lên trong dòng suối mùa xuân
- Tiếng hát con tàu là tác phẩm đặc trưng cho phong cách sáng tạo của Chế Lan Viên, thể hiện sự triết lý, cảm xúc được kết hợp chặt chẽ với lý trí, tạo ra một tầm nhìn rộng lớn.
- Hình ảnh trong thơ Chế Lan Viên luôn xuất phát từ sự sáng tạo độc đáo, ngạc nhiên. Tứ thơ của ông chủ yếu dựa trên logic liên tưởng, kết hợp với tu từ linh hoạt, mang lại hình thức thơ mới mẻ, cuốn hút độc giả. Chế Lan Viên luôn đặt mình vào tình trạng tìm kiếm sự đổi mới trong hình thức thơ.
B. TỰ SUY NGHĨ
1. Vẻ đẹp tinh tế trong bài thơ “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên
Gợi ý viết
- Chế Lan Viên, nhà thơ tài năng, nổi tiếng với tập thơ “Điêu tàn” trước thời Cách mạng tháng Tám.
- Ông chọn theo đuổi đường lối cách mạng, đặc biệt sáng tác nhiều bài thơ hay trong giai đoạn hoà bình (1954) với bầu không khí mới mẻ, sôi nổi. Bài thơ “Tiếng hát con tàu” thuộc tập thơ “Ánh sáng và phù sa” (1960).
- Tác phẩm phản ánh thời sự, phản ánh lời kêu gọi của Đảng và nhà nước, mời gọi mọi người tham gia khai hoang Tây Bắc. Bài thơ được sáng tác với tâm huyết và nồng nhiệt. Vùng đất anh hùng của Tổ quốc hiện ra qua những hình tượng thơ trí tuệ và rạng ngời ánh sáng.
- Thi sĩ, hay chí ít là nhà tri thức đã biến mình thành chiếc tàu huyền bí, đan xen những ước mơ tràn ngập hy vọng lên những miền đất nhiều gian khổ nhưng cũng đầy tình người. Quay về Tây Bắc là quay về với nhân dân mà cũng là quay về với tâm hồn của mình.
- Bài thơ mở đầu bằng lời tự hỏi, nhà thơ mở lời trần truồng những suy tư sâu sắc trước trách nhiệm lớn của dân tộc:
Tây Bắc ư? Có gì đặc biệt ở Tây Bắc
Khi tâm hồn ta đã là những chuyến tàu
Khi Tổ quốc vang lên khắp nơi
Tâm hồn ta thuộc về Tây Bắc, không nơi khác
- Con tàu trong bài thơ là biểu tượng của ước mơ, vì thực tế chưa từng có đường tàu nào lên Tây Bắc. Nhưng con tàu mang theo giá trị tượng trưng: khám phá những hành trình xa xôi, khơi gợi ước mơ lãng mạn. Hình ảnh thơ chứa đựng năng động, tràn ngập, say đắm:
Anh đã lắng nghe tiếng gió ngàn rì rào
Bên cửa sổ, con tàu khát khao ánh trăng
- Trí tuệ không chỉ tỏa sáng qua âm nhạc và hình ảnh, mà còn xuất hiện trong những liên tưởng, so sánh giữa cuộc sống rộng lớn và cảm xúc cá nhân nhỏ bé, giữa sự tự tại và sẵn lòng mở lòng với nhân dân, với đất nước. Người khai hoang Tây Bắc không chỉ là vì Tây Bắc, mà còn vì việc mở rộng cánh cửa hẹp của cuộc sống, mở lối cho sự sáng tạo, cho nguồn cảm hứng thơ ca:
Đất nước vô biên, cuộc đời hạn hẹp
Tàu gọi anh đi, chẳng lẽ chưa ra đi?
Không có ranh giới giữa thơ và đời
Tâm hồn anh mong đợi gặp anh dưới trời.
– Hành trình ra đi (đến với Tây Bắc) đồng nghĩa với sự trở về (với nhân dân). Trở về “nơi tâm hồn ta hòa mình vào đất”. Và đất đỏ trở thành mẹ hiền, “mẹ yêu thương” giữa khó khăn lao động. Nhà thơ diễn đạt cảm xúc của mình qua những từ ngữ cụ thể:
Gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ chào đón mùa giêng, én hòa mình trong bản nhạc mùa
Như đứa trẻ đói nhớ sữa nơi trái tim đắm say
Chiếc nôi ngừng bỗng trở nên ấm áp trong vòng tay âu yếm...
- Triết lý ẩn sau những so sánh tinh tế, giản dị. Kiến thức rộng lớn nhưng được thể hiện qua góc nhìn mới mẻ, làm cho suy nghĩ trở nên phong phú, sáng tạo.
- Ký ức kháng chiến với nhân dân Tây Bắc xuất hiện như một bức tranh sống động trong tâm hồn tác giả. Những gọi tên thân thương như “anh du kích”, “thằng em liên lạc”, và “mế tóc bạc” đánh thức lòng nhớ. Tây Bắc trở nên vĩ đại bởi lòng dũng cảm và tình nghĩa. Sự nhớ nhau, nhận thức sâu sắc đã biến đất lạ thành quê hương chân thật:
Khi ta đứng đó, nơi đất dừng chân
Khi ta bước đi, đất thành tâm hồn mình!
- Tiếp tục chất triết lý, nhà thơ chuyển qua miêu tả mối tình lãng mạn:
Anh lại nhớ em như mùa đông về rét buốt
Tình yêu ta tựa như cánh hoa vàng mở rộ
Như xuân sang, chim ríu rít lên cây rợp lá
Tình yêu làm đất trở nên quê hương thân thương.
- Khổ thơ tiếp tục làm rõ triết lý “đất – tâm hồn” thông qua so sánh mới lạ: “Anh lại nhớ em như mùa đông về rét buốt”. Trí tuệ được thể hiện một cách phong cách, không chỉ là tình cảm thuần khiết. Mùa đông luôn đến với cái lạnh buốt, mùa xuân rực rỡ “hoa vàng” và “chim ríu rít” trên cây xanh. Sức sống hồi sinh khi tình yêu hiện hữu, và tình yêu ấy khiến cho “đất” trở nên thân thuộc hơn bao giờ hết:
– Tình yêu cần phải dẫn dắt đến hành động, nhà thơ khuyến khích sẵn sàng ra đi xây dựng quê hương Tây Bắc:
Đất nước gọi, lòng ta reo hò
Tình em khát khao, mẹ chờ mong
Tàu, đôi cánh vội, vụt qua đám mây
Mắt ta mơ về mái ngói, trăm ga xa xôi.
- Trở lại Tây Bắc, là trở lại nguồn cội thơ, hòa mình vào lẽ sống cao quý của tâm hồn nghệ sĩ. Nhà thơ tái sinh, cuộc đời trở nên ý nghĩa như một bức tranh thơ hùng vĩ:
... Ai nói con tàu chỉ là ảo mộng?
Mỗi đêm khuya, trăng hòa mình vào nước
Lòng ta như tàu, uống say mê
Mặt hồng em, trong suối mùa xuân lấp lánh.
- Tinh thần sáng tạo của Chế Lan Viên được tăng cường trong dòng chảy cảm xúc của mình, bồi đắp bởi lịch sử cách mạng. 'Tiếng hát con tàu' trở thành giai điệu hùng vĩ, làm say đắm trái tim độc giả qua thời gian.
2. Sức hấp dẫn của khổ thơ này tại điểm nào? (Viết thành bài toàn cảnh)
“Nỗi nhớ bản sương, đèo mây phủ
Nơi nào qua, lòng lại chẳng thắm thiết yêu thương?
Khi ta ở, chỉ là chốn nơi đất bước chân
Khi ta đi, đất đã trở thành tâm hồn!”
Gợi ý làm bài
Trích từ “Tiếng hát con tàu” trong tập thơ “Ánh sáng và phù sa” (1960). Con tàu biểu tượng cho sự “đi tới”, khám phá miền đất Tây Bắc của Tổ quốc với sự dựng xây, tái thiết sau chiến tranh. Tiếng hát ấy là tiếng hát ca ngợi một tâm hồn đồng điệu với cuộc sống mới, nơi ý nghĩa sống được thiết lập trên sự gắn kết toàn dân.
Bài thơ là phản ứng dựa trên lời kêu gọi của Đảng và nhà nước về việc khai hoang Tây Bắc. Con tàu chỉ tồn tại trong tưởng tượng, hình ảnh và cảm xúc thơ là chân thành và nồng nhiệt. Vùng đất tươi đẹp và anh hùng của Tổ quốc hiện lên qua những hình tượng thơ lấp lánh ánh sáng triết lí của trí tuệ.
Đoạn trích khởi đầu với từ “nhớ”, hồi tưởng về cuộc sống ấm cúng, mộng mơ của bản làng, như trong Tây Tiến của Quang Dũng: “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi”. Chế Lan Viên nhớ về kí ức, kỉ niệm êm đềm tươi đẹp.
Nhà thơ chia sẻ lòng mình, tự hỏi mình và tìm sự đồng cảm nơi - mọi người với một sự đồng cảm: “Nơi nào qua, lòng lại chẳng thắm thiết yêu thương?”. Chỉ có những nơi gắn bó máu thịt, những nơi chở che, đùm bọc, quan trọng đối với sự sống, hạnh phúc của con người mới đáng được yêu thương. Và ngược lại, chỉ có tình yêu thương thực sự, gắn bó thực sự thì “đất” mới yêu thương lại con người. Ý thơ là nhấn mạnh đến sự gần gũi, gắn bó này.
Câu cuối cùng đặt trong cùng một bối cảnh nhưng thể hiện sự chuyển đổi từ vật chất cụ thể là “đất” thành trừu tượng là “tâm hồn”.
Khổ thơ này tạo nên sức hấp dẫn từ mối quan hệ biện chứng đất – tâm hồn. Sự gắn bó giữa con người và quê hương, xứ sở, với những nơi xa lạ chúng ta từng sống, đều được tạo ra thông qua mối quan hệ biện chứng “ở” và “đi”. Mỗi đoạn văn đều thể hiện một khía cạnh của mối quan hệ này.
Nỗi nhớ, kí ức không chỉ làm thăng hoa tâm hồn mà còn biến địa điểm xa xôi, vô tri thành máu thịt, tình cảm đích thực của con người.
Xem các bài soạn khác để nắm rõ kiến thức môn Ngữ Văn 12
- Chuẩn bị cho bài viết: Hành trang trở về quê hương
- Bài viết về hương vị độc đáo của Đò Lèn
SOẠN BÀI TIẾNG HÁT CON TÀU, tóm tắt 2
CHẾ LAN VIÊN
