SOẠN BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT BÀI THƠ, ĐOẠN THƠ
A. KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Mục đích của văn nghị luận về thơ
- Phân tích và khám phá những giá trị hay và đẹp của thơ.
- Xác định chủ đề, tư tưởng, và nội dung của một bài thơ, đoạn thơ,...
- Hiểu rõ về cái hay của một bài thơ, một phong cách thơ,... giúp người đọc thưởng thức và hiểu sâu sắc văn bản thơ.
2. Đối tượng nghiên cứu của văn nghị luận về thơ
– Nghị luận về thơ hướng tới nhiều đối tượng khác nhau:
+ Một thể loại thơ, như thơ lục bát, thơ Đường lượt.
+ Một bài thơ cụ thể, như Tây Tiến, Cảnh khuya,...
+ Một đoạn thơ đặc biệt, như Khám phá khổ thơ đầu trong “Tràng giang” của Huy Cận.
+ Một hình tượng thơ, như Hình tượng mẹ Suốt trong bài thơ cùng tên của Tố Hữu...
3. Phương pháp tiến hành của văn nghị luận về thơ
– Tìm hiểu về ngôn từ, nhịp điệu, âm thanh.
- Nghiên cứu về hình ảnh, cấu trúc.
- Phân tích các phương tiện tu từ và giá trị của chúng.
- Khám phá giá trị tư tưởng thẩm mỹ của văn bản được thẩm định...
4. Bài nghị luận về thơ thường tập trung vào các nội dung sau:
- Giới thiệu tổng quan về văn bản thơ được nghiên cứu, bao gồm xuất xứ, bối cảnh sáng tác, nơi thực hiện sáng tác...
- Tập trung vào những giá trị nội dung, nghệ thuật xuất sắc của văn bản thơ, bằng cách chỉ ra những dấu hiệu thẩm mỹ độc đáo, đặc biệt của nó, phân tích trong bối cảnh của các văn bản cùng thể loại, cùng đề tài, cùng phong cách,... để chỉ ra sự kế thừa và phát triển đặc biệt của văn bản đó.
- Tổng kết đánh giá về các giá trị, các khía cạnh không thành công của văn bản và trình bày suy nghĩ cá nhân.
B. TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP
1. Phân tích bài thơ sau của Hồ Chí Minh:
Tiếng suối róc rách như âm hát xa,
Trăng nằm chống lưng cây cổ thụ, bóng lồng hoa.
Cảnh đêm như bức tranh tĩnh lặng, người vẫn chưa ngủ,
Chưa ngủ vì lo lắng cho nồi nước gia đình.
Gợi ý viết bài
1. Mở bài:
- Năm 1947, giữa thời kỳ chiến đấu gay gắt chống lại thực dân Pháp, Hồ Chí Minh sáng tác Cảnh khuya. Bài thơ là điệu nhạc trong lành nổi lên giữa bức tranh chiến tranh hỏa lửa.
- Tác phẩm khẳng định vẻ đẹp quê hương, tinh thần kiên cường của nhà thơ cách mạng.
2. Thân bài:
- Sử dụng thể thơ tứ tuyệt, Cảnh khuya mang đậm vẻ trang nhã của thơ Đường.
– Thơ được viết chủ yếu từ góc độ của người họa sĩ. Khung cảnh sáng tạo là một đêm khuya, với núi rừng, tiếng suối, cây rừng, ánh trăng, những hình ảnh quen thuộc trong thơ cổ.
- Khám phá không gian bắt đầu từ âm thanh, tiếng từ xa vang lên. Đó là âm thanh trang nhã, tinh khiết của núi rừng, được so sánh với tiếng hát. Một bức tranh tĩnh lặng sâu sắc.
- Tạo ấn tượng về không gian qua âm thanh, tiếng hát dịu dàng. Nguồn cảm hứng từ âm thanh tựa như tiếng hát, yêu cầu sự yên bình, sự chăm chú để cảm nhận. Một khung cảnh tuyệt vời hiện ra qua con mắt tinh tế, kỳ diệu.
3. Kết bài:
- Bác Hồ đã chia sẻ “Ngâm thơ ta chẳng thèm ham”, bất kể có tâm hồn nhạc sĩ đam mê, nhưng ông vẫn ưu tiên những vấn đề quan trọng của dân tộc. Đó là cuộc chiến tranh bảo vệ độc lập quốc gia. Tinh thần của người lính chiến đấu chống thù luôn sống mãi trong tâm hồn Bác.
- Con người chiến sĩ trong Bác không làm mất đi con người nghệ sĩ. Ở đây có sự hoà quyện hài hòa. Sức mạnh của chiến sĩ hiện lên qua vẻ thơ mềm mại và sâu lắng. Nghệ sĩ và chiến sĩ là hai khía cạnh không thể tách rời.
2. Phân tích đoạn thơ dưới đây trong tác phẩm “Tràng giang” của Huy Cận.
Chim đưa cánh nhỏ, bóng chiều màu sa.
Lòng quế đong đầy dòng nước,
Khói hoàng hôn buông nhẹ, hồn nhớ quê.
Gợi ý viết bài
1. Mở bài:
- Huy Cận, nhà thơ trẻ nổi tiếng trong văn học Việt Nam. Trước Cách mạng tháng Tám, thơ của ông thường tràn ngập nỗi buồn. Tâm hồn buồn của ông được thể hiện qua tuyệt phẩm “Sầu vũ trụ”.
- Tràng giang, một trong những bài thơ xuất sắc nhất của Huy Cận, chạm đến tâm trạng cô đơn của con người trước vẻ đẹp huyền bí của vũ trụ.
– Bức tranh tinh tế về nỗi buồn được làm sâu sắc trong khổ thơ cuối cùng, làm nổi bật nét u buồn của nhà thơ.
2. Thân bài:
– Chiều tối khuất lạnh nỗi buồn sâu thẳm
+ Thời gian tập trung vào khoảnh khắc duy nhất: chiều tối.
+ Tràng giang lưu giữ thời gian đó không chuyển động. Bóng chiều xuất hiện ở đầu và tan biến ở cuối.
3. Kết bài:
- Bản thân khổ thơ không hình dung con người, chỉ là những hình ảnh như thuyền, củi, bèo, mây trời, chim chiều...
- Cảm giác cô đơn và buồn bát tràn ngập.
- Tâm hồn nhà thơ hiện lên đầy cảm xúc, rất nhạy cảm và tinh tế trong việc trải nghiệm thiên nhiên.
C, TỰ LUẬN
1. Anh (chị) cảm nhận như thế nào về “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử?
Gợi ý làm bài
1. Mở bài:
- Thông thường, thi nhân sáng tạo theo hai cách: trực tiếp sáng tạo từ cảnh vật, hoặc hồi tưởng từ kí ức để tạo nên bức tranh thơ.
- Đây thôn Vĩ Dạ là một tác phẩm theo hướng “hồi tưởng”. Hàn Mặc Tử viết về thôn Vĩ thông qua ký ức và tình cảm với nó khi ông bị bệnh, sống ở Quy Nhơn, xa Huế và Vĩ Dạ.
2. Thân bài:
- Chính tên gọi “Đây thôn Vĩ Dạ” đã gợi lên kí ức: “Đây” là Vĩ Dạ của quá khứ.
- Tên này tương đồng với tên bài thơ nổi tiếng “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu, nhưng khác biệt là mùa thu của Xuân Diệu là thu hiện tại, còn của Hàn Mặc Tử là thôn Vĩ của quá khứ, nơi đậm chất tuổi thơ.
- Bài thơ chia thành ba khổ để mô tả ba khung cảnh, ba tâm trạng khác nhau. Điều này phản ánh trạng thái lo âu và bất an của nhà thơ.
- Lớp trầm tích đầu tiên về thời gian qua khổ thơ đầu:
+ Hình ảnh đẹp, ngập tràn nắng sớm, với hàng cau, khóm trúc, và vườn cây trái “xanh như ngọc”.
+ Có hình bóng của một người con gái yêu kiều.
+ Thôn Vĩ hiện lên với vẻ đẹp tĩnh lặng trong nắng sớm mới bắt đầu.
+ Bức tranh có hai gam màu, nắng mới lên và xanh như ngọc.
+ Lớp trầm tích này nói về không gian bình yên, thư thái, và tình yêu của thi nhân đối với cuộc sống và đất đai huyền bí.
– Tuy nhiên, không lâu sau, khung cảnh này tan biến, lớp trầm tích thứ hai không còn, màu hồng sáng chuyển sang sắc số, tảo tần sầu thảm.
+ Cảnh vật chuyển từ đất liền xuống sông (dòng nước, con thuyền), mở rộng ra cả bầu trời để theo dõi mây, gió.
+ Thời gian nhanh chóng chuyển từ buổi sáng (nắng mới lên) sang buổi tối (chở trăng về). Dấu hiệu của sự chuyển động và thay đổi sâu sắc trong tâm hồn người viết thơ.
+ Ở khổ thơ đầu, nhà thơ đang chờ đợi sự hội ngộ và tin rằng nó sẽ đến.
+ Nhưng ngay sau dấu hỏi, hình ảnh người xưa tan biến, giống như tuổi xuân tươi trẻ, sức khỏe,... chỉ còn là căn bệnh phong khó chữa và sự lạc lõng của người đồng đội: Gió theo lối gió mây đường may / Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay.
+ Gió, mây nhấn mạnh sự chia lìa, tan vỡ, và tâm trạng của nhà thơ giống như khối trống hỗn độn nhưng không có mây gió. Ngay đến cả sự chuyển động (gió thổi, mây bay, hoa bắp lay) cũng không làm cho cảnh vật sống động hơn, phong phú hơn.
+ Cảm xúc buồn bã của nhà thơ đã lây lan đến tất cả. Ngay đến sự di chuyển (gió thổi, mây bay, hoa bắp lay) cũng không làm cho khung cảnh trở nên hạnh phúc hơn. Dấu hiệu của nỗi buồn được lan tỏa đến mọi vật. Ngay cả sự chuyển động (gió thổi, mây bay, hoa bắp lay) cũng không làm cho cảnh vật đó sống động, phong phú hơn.
+ Cung trầm tích buồn còn ánh trăng chiếu sáng. Vì nước buồn (không chỉ buồn mà còn buồn thiu), nên trăng với nước không thể vui vẻ:
Có chở trăng về đúng tối nay không?
- Sự chờ đợi niềm niềm của thi nhân đã vỡ tan thành nỗi tiếc nuối. Càng níu giữ, nhà thơ càng bị đẩy sâu vào lớp trầm tích hiện thực. Quá khứ xa - đẹp, quá khứ gần - vẻ đẹp giảm sút, quá khứ hiện tại - vẻ đẹp tan biến, tình người tan biến, đau thương, mất mát, tuyệt vọng nổi lên:
Bộ trang phục trắng của em rực rỡ, khiến mọi người không thể nhận diện được
+ Từ thế giới thực chuyển hóa thành giấc mơ, từ màu xanh ngọc chuyển sang trắng tinh khôi. Màu trắng như là bức tranh của sự mất mát, là màu của vô hình, không gì có thể so sánh.
+ Những kí ức sống động từ quá khứ giờ đây đã mờ nhạt, chìm đắm trong biển sương mỏng của thời gian. Khoảng cách lại một lần nữa được làm rõ: càng xa, càng khiến con tim đau đớn. Dù vậy, ta vẫn cố gắng giữ lại một lần nữa:
Ai có thể hiểu được sâu thẳm tình cảm của ai?
+ Hỏi người và tự hỏi, hỏi về quá khứ và hiện tại, khẳng định và đồng thời phủ nhận, tình yêu kết hợp với nghi ngờ, từ chối. Tâm trạng của nhà thơ là một khối cảm xúc đau đớn, nhưng lại là của người cô đơn, bị đẩy ra xa khỏi cuộc sống, nhưng vẫn giữ lại niềm khao khát trong sự bất lực của việc quay trở lại với dòng đời cuốn trôi... 3. Kết luận:
- Thời gian trôi đi là một cuộc phiêu lưu phức tạp của nhà thơ: muốn giữ lại, muốn hòa mình vào cuộc sống, muốn sống hết mình nhưng mỗi ngày lại bị đẩy xa hơn vào vùng lãnh địa cô đơn.
- Khi được gọi tỉnh, những 'lâu đài, đền thờ' trong tầng lớp kí ức thời gian lại bừng tỉnh nhưng chỉ để chôn sâu hơn nỗi đau thực tại, nỗi khao khát trong tâm hồn bị chìm đắm trong bi kịch của nhân văn theo Hàn Mặc Tử.
2. Thể hiện quan điểm cá nhân về vẻ đẹp của bài thơ Đây mùa thu tới (Xuân Diệu).
Gợi ý viết
- Là một trong những tác phẩm nổi tiếng về mùa thu của Thơ mới và Việt Nam, bài thơ Đây mùa thu tới xuất hiện trong tập Thơ Thơ (1938) - tập thơ đầu tiên của Xuân Diệu. Điều này đã giúp tên tuổi của ông trở nên nổi bật khắp cả nước và đồng thời chứng minh sức mạnh của Thơ mới, thay thế thơ cũ có niêm luật.
- Xuân Diệu đã thực hiện một cách tiến bộ vượt bậc trong nghệ thuật thơ. Tác phẩm này thể hiện lòng mến mộ với thiên nhiên tươi đẹp, khả năng quan sát tinh tế và sâu sắc của Xuân Diệu trong việc tả cảm xúc trước mùa thu.
- Mùa thu không chỉ là mùa của thơ mà còn là mùa của mọi loại nghệ thuật. Từ bức tranh Mùa thu vàng rực lá của Lê-vi-tan đến bản nhạc Giọt mưa thu của Đặng Thế Phong và bài thơ Tiếng thu của Lưu Trọng Lư... mùa thu luôn là nguồn cảm hứng vĩnh viễn không bao giờ cạn kiệt đối với bất kỳ tâm hồn nghệ sĩ nào. Dựa trên ý thơ của A-pô-li-ne, Phạm Duy đã sáng tác ra một kiệt tác âm nhạc về mùa thu bất tử:
Để nhớ về mùa thu đã qua.
(Mùa thu mãi mãi)
Trong văn chương, mùa thu là mảnh đất dành riêng cho thơ. Văn xuôi cũng mô tả về mùa thu, khám phá nó với mục đích thẩm mỹ, nhưng vì mùa thu là mùa của cảm xúc, nên các tác phẩm văn xuôi dù cố gắng nhưng không thể đạt được thành công như thơ. Tiếng xào xạc của lá, hình ảnh dễ thương của chú nai, chân đạp lên thảm lá vàng rơi, đó chính là mùa thu:
Chú nai vàng ngơ ngác
Chân đạp lên lá vàng khô.
(Tiếng thu, Lưu Trọng Lư)
Trong quá trình phát triển văn hóa Việt Nam, thời kỳ từ 1932-1945 là thời điểm quan trọng, nơi mà sự giao thoa giữa trời thu và tâm hồn thu trong văn chương trở nên sâu sắc và bền vững nhất. Giai đoạn lịch sử đầy gian truân của dân tộc này đã khắc sâu trong lòng các nhà thơ những gam màu thương nhớ, tiếc nuối và u sầu... đó chính là những màu thu được cảm nhận qua tâm hồn của thế hệ vàng trong thơ ca Việt Nam.
Thâm Tâm trong Tống biệt hành tiễn diễn đạt về sắc vàng của nắng thu khi mùa thu vừa bắt đầu (Trời chưa mùa thu tươi lắm thay):
Sao chói lọi trong đôi mắt rực rỡ.
Bích Khê mô tả mùa thu qua sắc lá vàng rơi:
Ôi buồn thương cường cây ngô đồng.
Vàng rơi! Vàng rơi: Thu huyền bí.
(Tì bà)
– Dù cùng là sắc vàng thu, Anh Thơ không chọn màu của lá, của hoa cúc mà lại là màu vàng của hoa mướp – loài hoa giản dị trong làng quê:
Bầy chuồn chuồn hòa mình với nắng, trên cánh bay ngẩn ngơ.
(Sang thu)
Trong thế giới văn học Việt Nam, Nguyễn Bính là tiếng trống rộn của mùa thu trong tác phẩm Một trời quan tái.
Lá thu rơi, ánh nắng tà mờ
Quán rượu che mờ trong sương khói
Váng hồn thu sôi động theo tiếng gà
Trong thi phái lãng mạn, thiên nhiên là đề tài lớn bao gồm cả bốn mùa và vạn vật, nhưng ở Việt Nam, những nhà lãng mạn bậc thầy đã đặt tình cảm của mình vào mùa thu. Họ cảm nhận được trong thu sự xao xuyến của giao mùa, sự tiếc nuối và vẻ đẹp đột ngột xuất hiện và tan biến nhanh chóng trong xứ sở nhiệt đới ẩm ướt.
Ở Việt Nam, ba miền Bắc - Trung - Nam có đặc điểm thời tiết khác nhau. Miền Nam và miền Trung ít khi có mùa thu. Nơi đó, ngay sau cái nắng chói chang của mùa hè
Bắt đầu từ đề mục: Đây mùa thu tới. Tại sao không là mùa thu tới đây? Thi nhân muốn nhấn mạnh sự xuất hiện của mùa thu? Có lẽ vậy. Nhan đề truyền đạt ý không chỉ là mùa thu đang đến mà còn là mùa thu đã đến, nhưng chỉ mới bắt đầu và đang trong quá trình thay đổi. 'Đây' bắt gặp ngay khoảnh khắc mới xuất hiện của mùa thu, nhưng cũng ẩn chứa dự cảm thoáng qua về mùa thu: sự ngắn ngủ - khoảnh khắc lạ hoá 'mùa thi ca' của Xuân Diệu.
Không giống với tâm trạng của Bạch Cư Dị tiễn khách trong đêm trăng thu: “Bến tầm dương canh khuya đưa khách / Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu” (Tì bà hành) nhưng giống với Hàn Mặc Tử trong Buồn thu:
Tình thu giữa lòng nặng trĩu!
Cánh nhạn vội vàng bay lên cao
Hiu hắt hơi thoảng thoảng lại đâu
Nỗ lực không thành nỗi mộng mơ
Tràn đầy để giảm đi chút buồn bã
Ánh đèn dịu dàng chói lọi
Bức tranh của sắp đến mùa đông, đôi mắt tràn lệ.
Thu theo cách của Xuân Diệu cũng chọn biểu tượng là cành liễu. Liễu muôn đời, lá vẫn rủ và xanh bên bờ hồ (nếu không trồng ở nơi khác). Như mọi cây cỏ và vật tự nhiên khác, liễu có thể buồn bã hoặc vui mừng, khóc lóc hoặc cười đùa không phải vì liễu mà là do tâm trạng của người nhìn thấy liễu, vẽ liễu hay mô tả liễu. Do đó, trong thơ mới, có “liễu xanh ngắt” trong những ngày cuối thu của Hàn Mặc Tử và “liễu chịu tang” của Xuân Diệu:
Tóc buông dài, lệ hàng ngàn dòng.
Biện pháp nhân cách hóa được áp dụng ngay từ phần mở đầu. Thực tế, Xuân Diệu sử dụng một phương pháp so sánh gián tiếp: “rặng liễu đìu hiu” giống như “đứng chịu tang”, như “tóc buồn buông xuống”, như “lệ ngàn hàng”. Dáng của liễu là “đứng chịu tang”, đầy âu lo, buồn bã. Lá rủ của liễu là “tóc buồn buông xuống”, là “lệ ngàn hàng”. Cùng một hình tượng lá mà nhà thơ tưởng tượng ra hai diện mạo khác nhau: hình dáng tóc và dáng lệ. Cách tiếp cận và sức tưởng tượng ở đây thật sự tinh tế và độc đáo. Khi liễu buồn cũng là lúc thu về. Hay là thu về làm cho liễu buồn? Nhưng ngay sau câu thơ này - một phần của câu thơ được chọn làm tiêu đề – nhà thơ thể hiện một tâm trạng có vẻ khác biệt: như là một phút giây giật mình kín đáo, thốt lên trước vẻ đẹp kỳ diệu vừa được khám phá:
Với bộ áo mơ phai dệt từ lá vàng.
Nếu thay đổi hai câu thơ đầu bằng những câu khác mang tính trung tính hoặc giảm bớt nỗi đau, âm hưởng của bài thơ sẽ không bị áp đặt bởi nét buồn của liễu kia. Nói cách khác, loại bỏ hai câu đầu hoặc giảm bớt những từ diễn đạt nỗi đau như đìu hiu, tang, buồn, lệ, bài thơ sẽ chỉ là biểu hiện của nỗi buồn nhẹ nhàng như bản chất thu hay tâm hồn nghệ Bí muôn thuở. Bài thơ gặp sự kết hợp kỳ lạ giữa cảnh thu của trời đất và hồn thu của thi nhân.
“Đây mùa thu tới - mùa thu tới” vẫn là một tiếng kêu thầm. Tiếng reo của sự mong đợi lâu dài (hoặc có thể là không mong đợi chút nào) nay đã thành hiện thực. Hoặc có thể là thu đã đến nhưng giờ đây thi nhân mới chợt nhận ra. Tiếng reo ấy có thể là không vui nhưng tuyệt đối không thể là buồn thấu đáo như hình bóng liễu câm lặng trong tang tóc kia. Điều này một phần là do cụm từ “mùa thu tới” được lặp lại, lặp lại âm ới, ới (trong tới), và phần khác đến từ những từ mô tả màu sắc ở câu sau: không có gam màu buồn mà lại đẹp, trang trọng: mơ phai và cả động từ dệt gợi lên sự yên bình, thanh thoát.
Mùa thu với nỗi buồn dịu dàng, bi thương, da diết,... qua các thời kỳ. Đó là điều tất nhiên. Nếu không thì tại sao những buổi tiễn biệt, những chiều nhớ nhung thường diễn ra trong mùa thu. Câu thơ nổi tiếng của Bạch Cư Dị trong bài Thu giang tống Hạ Chiêm sáng tác khi tiễn biệt cũng xuất phát từ không khí thu: Yên ba sầu sát nhân (khói sóng buồn chết người). Có lẽ do văn hoá thu buồn ấy, thêm vào đó tâm trạng đa dạng của một tâm hồn lãng mạn và sự nhạy cảm với thân phận của một người nô lệ, nên Xuân Diệu mới mở đầu bài thơ bằng nỗi buồn nặng kia.
Nhưng một cách nhanh chóng, dòng lệ thương tâm của thu Xuân Diệu chuyển từ nỗi buồn tang tóc sang trạng thái tâm lý khác, một trạng thái trung tính qua vẻ đẹp tươi mới và kiêu kỳ. Đây là sắc màu của mùa thu: “áo mơ phai dệt lá vàng”. Câu thơ có một cấu trúc độc đáo: Lá vàng có thể làm áo mơ phai hay áo mơ phai dệt lên màu lá vàng?
Nếu hai câu đầu, nhà thơ chỉ tập trung vào việc mô tả nỗi buồn của rặng liễu mà chưa chú ý đến màu sắc, thì ở câu thứ tư, rặng liễu đã có màu. Nhưng gam màu này (ít buồn hoặc không buồn) lại tạo ra sự tương phản với dáng điệu buồn bã kia. Có lẽ tâm trạng thơ đã có sự thay đổi?
Quả là đã có sự thay đổi. Nhà thơ buồn trước đó giờ đã giảm bớt buồn, thậm chí là hết buồn. Đây là diễn biến bình thường của tâm trạng, xảy ra khi có một sự kiện bất ngờ. Mùa thu đến với Xuân Diệu một cách đột ngột. Đang bình yên không lo lắng, bỗng dưng cảm nhận mùa thu đang đến, trái tim không khỏi hồi hộp, thổn thức, và ngẩn ngơ?
Khổ thơ đầu không chỉ đặc biệt về cách thức thể hiện tâm trạng (vui nhẹ xen lẫn u buồn, bình thản xen ngỡ ngàng), về cấu trúc câu (áo mơ phai dệt lá vàng) mà còn độc đáo về kỹ thuật sử dụng và phối màu. Bức tranh thu ở khổ thơ này chủ yếu được tạo nên từ những gam màu gián tiếp. Người đọc phải tưởng tượng sắc màu ấy qua cảnh vật mà thi nhân mô tả: “Rặng liễu” gợi lên màu xanh (nhưng đã trải qua sự mơ phai), màu tang tóc là màu trắng, màu tóc chủ yếu là màu đen, và màu nước mắt là màu trắng trong suốt. Xanh, trắng, đen, và trắng trong suốt là những gam màu nổi bật, tạo ra sự tương phản rõ ràng. Sắc màu của mùa thu vì thế trở nên sống động hơn bao giờ hết.
Cái cái nhìn trong khổ thơ này là cái nhìn tổng quan, từ khoảng cách xa. Cảnh thu ở đây chủ yếu mang màu buồn, đeo lên mình áo mơ vàng của lá, thậm chí cả liễu cũng không còn màu xanh. Từ màu lá, nhà thơ chuyển sang màu hoa. Từ đó, cái nhìn từ tầm nhìn xa chuyển sang tầm nhìn gần. Khổ thơ thứ hai mở đầu bằng một câu rất “Tây” và chính đây cũng là đặc điểm chính của cả khổ thơ – “Tây” hơn ba khổ thơ còn lại:
Trong vườn, sắc đỏ quyến rũ màu xanh
Những luống run rẩy, lá rinh rẻ...
Đôi cành cô quạnh, xương mỏng manh.
Đặt một từ so sánh ngay tại đầu câu “một loài hoa đã rơi” thật sự là một cách sáng tạo không chỉ đối với thời Xuân Diệu mà ngay cả ngày nay câu thơ vẫn là một thách thức lớn đối với bất kỳ người làm thơ nào. Dù là cái nhìn gần nhưng vẫn mang tính chung chung, tổng quan vì nhà thơ không nêu rõ đó là loài hoa gì. Chắc chắn, khung cảnh nơi nhà thơ nhìn thấy có quá nhiều loại hoa? Hoặc khác biệt là nhà thơ không muốn đề cập đến một loài hoa biểu tượng của mùa thu, thường xuất hiện trong thơ ca hàng thế kỷ nay:
Cô chu ngựa chúc thế trần tâm.
(Bụi cúc rơi thêm giọt lệ cũ
Thuyền buộc chặt tình duyên trăm năm).
(Đỗ Phủ, Thu hứng - Nguyễn Công Trứ dịch)
Chính xác, nhà thơ không muốn bao giờ lặp lại ai. Dù có vẻ như đối diện với nỗi buồn nhưng nỗi buồn của Xuân Diệu chỉ là nỗi buồn của một nghệ sĩ, không hề đau đớn như nỗi buồn đất nước bi thiết của Thánh Thi Đỗ Phủ.
Hoa của Xuân Diệu được miêu tả là 'hơn một loài hoa”. Về loài hoa đó, tùy thuộc vào sự tưởng tượng của người đọc, chúng sẽ xuất hiện. Tuy nhiên, với cách diễn đạt “rụng cành” và 'sắc đỏ rũa màu xanh” (hoặc có phiên bản là “rủa màu xanh”), dù là rụa hay rủa, câu thơ vẫn giữ nguyên phong cách đặc trưng của Xuân Diệu. Nếu là rụa, câu thơ mang theo sự xâm chiếm của màu đỏ và xanh, tạo nên một tình huống xung đột hoặc chiến tranh giữa hai màu sắc, điều thường thấy khi thu về. Nhưng nếu là rủa, ngoài sự mô tả về xung đột, “rủa” còn đánh thức sự “mắng mỏ”, sự “kêu la” của sắc màu. Điều này đã làm cho màu sắc, hoa lá, cây liễu,... trở nên sống động, thú vị hơn, và một cách rất... thu.
Mùa thu thường gắn liền với lá vàng, lá khô, cành khô,... và còn kết hợp với âm thanh nhẹ nhàng, trong lành của đất trời. Càng quan trọng khi thu luôn mang theo ý thu, tình thu – điều mà có lẽ, so với bốn mùa trong năm, chỉ mùa xuân mới có thể sánh kịp. Vì vậy, ta thường thấy thu xuất hiện khắp nơi trong thơ, không chỉ trong thơ mới hay thơ Đường, mà thậm chí cả thơ hai cư cũng trọng dụng thu như một phần quan trọng:
Chim quạ nghỉ ngơi
Bình minh thu
(Ba-sô thơ, Nhật Chiều phiên dịch)
Bài thơ về “chú quạ” được coi là một trong những tác phẩm xuất sắc của Ba-sô. Ba hình ảnh trong bài thơ gồm cành cây, chim (quạ), và buổi chiều, gần như xuất hiện trong nhiều bài thơ mùa thu khác: cây, chim, và buổi chiều. Nếu so sánh với Đây mùa thu tới, một hình ảnh giống nhau là cây cành. Cây cành của Ba-sô không mô tả hình dạng (do giới hạn ngôn từ của thơ hai cư, với mỗi bài chỉ 17 âm tiết, riêng bài “chú quạ” này đã vượt quy định thông thường - 19 âm tiết). Còn cây cành trong thơ Xuân Diệu được mô tả chi tiết: “đôi nhánh khô gầy”. Nếu chỉ là “đôi nhánh khô' thôi, hình ảnh không sống. Cần thêm từ “gầy” để cây cành đã chết lại càng trở nên sống, dù chỉ là “mong manh”. Sự tinh tế trong cách mô tả và nhận thức về thiên nhiên của Xuân Diệu được tập trung ở đây. Không chỉ nhìn thấy và đọc được lời “rủa” của hai sắc màu, ông còn cảm nhận được sự thay đổi nhỏ bé của cây lá: “Những luồng run rẩy rung rinh lá”. Chỉ với hai câu thơ, Xuân Diệu đã sử dụng ba từ láy: run rẩy, rung rinh, mỏng manh. Những từ láy này không chỉ mang đến âm nhạc cho thơ mà còn giúp tạo nên hình ảnh, sự chuyển động khiến mùa thu trở nên lung linh như chính sự kỳ diệu của nó, cảm nhận sự thay đổi và xao lạc của tự nhiên và tâm hồn con người.
Chỉ với hai câu thơ, Xuân Diệu đã sử dụng ba từ láy: run rẩy, rung rinh, mỏng manh. Những từ láy này không chỉ mang đến âm nhạc cho thơ mà còn giúp tạo nên hình ảnh, sự chuyển động khiến mùa thu trở nên lung linh như chính sự kỳ diệu của nó, cảm nhận sự thay đổi và xao lạc của tự nhiên và tâm hồn con người.
Chỉ với hai câu thơ, Xuân Diệu đã sử dụng ba từ láy: run rẩy, rung rinh, mỏng manh. Những từ láy này không chỉ mang đến âm nhạc cho thơ mà còn giúp tạo nên hình ảnh, sự chuyển động khiến mùa thu trở nên lung linh như chính sự kỳ diệu của nó, cảm nhận sự thay đổi và xao lạc của tự nhiên và tâm hồn con người.
Núi cao dần mất đi vẻ sương khói.
Tâm nhìn nhân vật hóa tiếp tục tạo ra sự thân thiện, thân thiện với các hiện tượng trong tự nhiên. Thay vì sử dụng “vầng trăng,” nếu chúng ta thay thế bằng “vầng trăng,” câu thơ sẽ mất đi sự quen thuộc, mặc dù “vầng trăng” vẫn có thể tạo ra cảm giác mơ mộng. “Ngẩn ngơ” là yếu tố giúp “nàng trăng” liên kết với “thiếu nữ” ở cuối bài thơ. Mặc dù vậy, từ quan trọng nhất trong hai câu thơ này là “tự” và “khởi sự.” Nếu loại bỏ chúng hoặc thay thế bằng từ khác, câu thơ sẽ mất đi tất cả các yếu tố biểu cảm độc đáo của chúng. “Ngẩn ngơ” trong “thỉnh thoảng vầng trăng ngẩn ngơ” không thể diễn đạt được phần chủ quan của “trăng” hoặc sự trong sáng, tự nhiên của trời đất. Trăng không bao giờ ngẩn ngơ; chỉ có tâm hồn của thi sĩ mới làm cho vầng trăng trở nên như vậy. Do đó, khi nhà thơ gọi trăng là “nàng trăng,” việc “ngẩn ngơ” có thể được chấp nhận. Nhưng nếu là “trăng ngẩn ngơ,” có vẻ như có ảnh hưởng từ bên ngoài (khiến cho trăng rơi vào trạng thái đó). Khi để trăng “tự” ngẩn ngơ, tác giả đang khẳng định tính ý thức của một sự sống vô tri vô giác. Trăng trở nên gần gũi với lối sống của con người.
Tương tự, “khởi sự” mang ý nghĩa là “bắt đầu.” Nếu thay “bắt đầu” vào câu thơ, không khí trang trọng sẽ biến mất. Vì đã là “non xa” (không phải “núi xa”), “khởi sự” phải được giữ nguyên, và cách Xuân Diệu sử dụng từ này là một cách lôgic và chặt chẽ, không thể thay thế. Ba câu cuối cùng của bài thơ đều được xem xét dưới góc độ nhân cách hóa. Các đối tượng được nhân cách hóa ở đây bao gồm “trăng,” “núi,” và “giá rét.” Chúng là những đối tượng tự nhiên và tồn tại mãi mãi, nhưng chỉ thông qua sự hiểu biết và đồng cảm từ phía nhà thơ chúng mới trở nên sống động. Điều này chứng tỏ tài năng của nghệ sĩ mới làm sáng tỏ một phần nào đó của tạo vật. Nhà thơ nhìn thấy “nàng trăng” ngẩn ngơ, thấy “núi” mờ sương. Cả trăng và núi đều được nhìn nhận từ khoảng cách xa và được khám phá dưới góc độ chuyển động. Sự chuyển động của trăng chủ yếu là động từ tâm hồn. Sự chuyển động của núi là động từ bên ngoài. Dù là động nhưng mỗi vật thể mang một sắc thái riêng. Mùa thu làm cho tất cả mọi thứ không còn như trước, luôn tồn tại sự biến đổi và thay đổi trong mọi hiện tượng của thiên nhiên.
Cây nhìn trong bài thơ trở nên tổng quan hơn so với cây trong bài thơ thứ hai và vật quan sát ở đây có phạm vi vũ trụ, hoành tráng hơn. Điều này cho thấy cảm xúc thu đang ngày càng phồn thịnh trong tâm hồn nhà thơ. Do đó, khi nhìn xa ra không gian bao la, Xuân Diệu vẫn cảm nhận được tiếng “rét mướt luồn trong gió.” Chắc chắn đây là một trong những câu thơ xuất sắc nhất của Xuân Diệu và của nền văn hóa thơ của dân tộc. Hãy đọc lại:
Đã nghe rét mướt buồn trong gió.
Thường thấy gió mang theo lạnh từ, nhưng lạnh không thể tách khỏi gió để luồn trong gió. Sự cảm nhận ở đây thực sự tinh tế. Cách cảm nhận này cho thấy điều này: mùa thu đã đến, đang đến tận cùng độ chớm thu. Xuân Diệu luôn tạo ra những đoạn thơ thuần túy và tinh tế:
Bóng nhỏ buồn bâng khuâng chiều trôi;
Bóng khói hư vô đậu trên hạnh,
Cành biếc run run dịu dàng bên đời.
(Thu)
Và đây là không khí thu của Thơ duyên:
Hoa lạnh chiều xuống, sương bay theo dần dần.
Mặc dù là không khí chớm thu, Đây mùa thu tới không chia sẻ cùng tâm trạng với Thơ duyên và có lẽ Thơ duyên ra đời trong khoảnh khắc thu sớm hơn Thu của Đây mùa thu tới. Tuy nhiên, Thơ duyên được xây dựng trên nền tảng của tình cảm tương hợp nên nó mang đến cái nhìn rộn ràng, tươi trẻ hơn một chút:
Đôi chim kể chuyện trên cành,
Nguyên bức tranh thế giới bình yên
Thu về – từng làn tiếng huyền thoại.
Trong khi Đây mùa thu tới thì nó tập trung vào cảm xúc của sự cô đơn, mất mát, và chia lìa. Không còn hình ảnh “Mây biếc về đâu bay gấp gấp”. Thay vào đó, là “Mây vẩn từng không chim bay đi”. Giữa hai bài thơ, có sự tái xuất hiện của một số hình ảnh, nhưng chúng xuất hiện trong bối cảnh khác nhau. Nếu ở Thơ duyên, mây là “mây biếc” và di chuyển theo cách “bay gấp gấp,” thì mây ở Đây mùa thu tới là “mây vẩn từng không,” mây đứng yên hoặc quẩn quanh một chỗ thôi.
Tương tự, khi so sánh với cánh cò trong Thơ duyên được tạo dáng trong tư thế “cánh phân vân,” hẳn là chưa bay, còn cánh chim trong Đây mùa thu tới đã “bay đi”... Với việc đặt từ “đã” ở đầu hai câu thơ trong khổ thứ ba, Xuân Diệu khẳng định thu đã đến và đã lưu lại đây. Thu làm cho khung cảnh trở nên buồn bã. Thu gói gọn tâm hồn con người vào kỷ niệm. Thu làm người ta buồn bã. Thu giữ chân người để cản trở những chuyến đò vắng người: “Đã vắng người sang những chuyến đò”. Thu của Đây mùa thu tới là mùa thu của sự cô đơn, trống rỗng, u buồn,... nhưng vẫn chưa chuyển sang cái chết như tiếng lá khô rơi trong Tiếng thu (Lưu Trọng Lư).
Cây cỏ, hoa lá, trăng núi, gió mây, thậm chí cả bầu không khí đều góp mặt: (Khí trời u uất hận chia li). Nhưng tất cả chỉ là bối cảnh để con người xuất hiện. Đương nhiên, phải là người phụ nữ buồn (với Xuân Diệu chắc chắn phải như vậy) và đương nhiên phải là “thiếu nữ buồn” để phù hợp với bầu không khí thu đó:
Ngả đầu suy ngẫm cõi tư duy xa xôi.
Bức tranh thu buồn mênh mông kết thúc bằng hình ảnh thiếu nữ tĩnh lặng. Dáng liễu mở đầu, nhưng cảm xúc đìu hiu đến chịu tang. Ngược lại, thiếu nữ đứng đó không nói, nhưng buồn bã, tất cả kết thúc trong sự đìu hiu. Hình ảnh cuối cùng của bài thơ tạo nên sự tương ứng đầy mê hoặc.
Trong thơ Việt, mùa thu không chỉ thuộc về chữ mà còn thuộc về âm nhạc. Đặng Thế Phong, trong những Giọt mưa thu, tạo nên một hình ảnh héo hắt, thánh thót của giọt mưa thu bên ngoài cửa sổ:
Văn Cao, tài năng vượt trội, để cung đàn hòa mình vào hơi thở cuối thu, trong niềm Buồn tàn của mùa thu:
Phạm Mạnh Cương, với sự tinh tế, viết nên bản ca khúc ngợi ca mùa thu, chính xác hơn, là hát lên nỗi Buồn của mùa thu:
Thơ và nhạc, hội hoạ, mùa thu thời chiến đầy nỗi buồn, mất mát, và tiếc nuối. Ai cũng biết mùa thu nào cũng mang theo nỗi buồn, nhưng Lí Thương Ẩn đã gửi trọn tình bạn trong hồ thu, một đêm mưa Dạ vũ kí Bắc, ao ước gặp lại để chia sẻ về đêm mưa thu ấy. Hàn Mặc Tử, trong thơ cuối thu, tận hưởng nỗi buồn thu, khác hẳn với sự ngây ngất của Xuân Diệu khi mùa hè nhường chỗ cho mùa thu mát mẻ. Mùa thu của Xuân Diệu buồn nhưng không đát, chỉ là một mặc niệm thoáng, trả lại vẻ tinh khiết, đẹp diệu của thu. Còn Hàn Mặc Tử, gần kề cái chết, đồng cảm với thu tàn. Nét mới của Đây mùa thu tới nằm ở cách đặt câu, sử dụng từ ngữ, tạo quan hệ cho hình tượng, trong khi Hàn Mặc Tử mang lại hình ảnh lạ như từ thế giới mộng:
Như một bức tranh miêu tả bầu trời, với lụa trời như tấm nền, chim bay và hình ảnh người gánh máu đi trên tuyết. Khung cảnh đen tối và lạnh lẽo, tạo nên một cảnh thu quái dị.
Dù cũng là cây và màu vàng, nhưng cây và gam màu này hoàn toàn khác biệt so với những gì mà Xuân Diệu đã tạo ra:
Những tia nắng lung linh rơi rụng lên những chiếc lá
Những cành cây gầy gò, mảnh mai dưới tác động của sương mỏng.
Rõ ràng, tâm hồn và tri giác của nhà thơ đã dẫn Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử đến những cách nhìn nhận và trải nghiệm riêng biệt về mùa thu. Mặc dù vậy, bài thơ về mùa thu của Xuân Diệu vẫn trở nên nổi tiếng hơn. Với 'Đây mùa thu tới', Xuân Diệu đã khắc sâu trong tâm trí của độc giả qua các thế hệ một bức tranh về mùa thu, với những hàng liễu, màu hoa, cành cây rơi lá, những đám mây, những chú chim, bầu trời trong xanh, và hình ảnh của một cô gái đứng tựa cửa. Những hình ảnh này, mỗi khi được nhắc đến, đều đánh thức trong tâm trí người đọc về một khung cảnh thu, một nỗi buồn đậm sâu như tình thu trong vũ trụ kỳ diệu.
"""""---HẾT""""""--
Ngoài việc thực hiện Bài luận về một tác phẩm văn học, đoạn thơ, để nâng cao khả năng học Ngữ Văn lớp 12, học sinh nên khám phá thêm những bài viết như Lập bài Tây Tiến cũng như thuộc phần soạn bài của Sách Giáo Khoa Ngữ Văn 12.
Hơn thế, Soạn bài Thêm: Đất nước đó là một bài học quan trọng trong chương trình học Ngữ Văn 12 mà học sinh cần phải tập trung nghiên cứu đặc biệt.
Trong khuôn khổ chương trình Ngữ Văn 12, phần Đánh giá về Linh hồn Trương Ba, chiếc da bán thịt của Lưu Quang Vũ đều là nội dung quan trọng mà học sinh cần chuẩn bị kỹ lưỡng.
