SOẠN BÀI VIẾT BÀI LÀM VĂN SỐ HAI: NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
1. Đề 1: Ghét và Thương xưa nay vốn được coi là hai cực đối lập trong tình cảm con người. Vậy tại sao nhân vật ông Quán lại nói “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương”? Anh (chị) nghĩ gì về lẽ ghét thương này?
Gợi ý làm bài
- Ông Quán không hề nhập nhằng khi nói về những điều mình thương và ghét. Kết cấu của đoạn thơ phần nào cũng thể hiện điều đó. Sau lời
khái quát Vì chưng ghét cũng là hay thương là những cặp câu mở đầu bằng | “ghét” sau đó là nói về chuyện “thương”, để rồi kết đoạn “nửa phần lại ghét,
nứa phần lại thương”. Ghét cũng đến điều mà thương đến độ: “ghét cay ghét đắng ghét vào tận tâm”, “thương là thương...”
- Cơ sở của “lẽ ghét thương” xuất phát từ cái gốc rất sâu trong tấm lòng của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Ông đã đứng về phía nhân dân, xuất phát từ nhân dân để phẩm bình lịch sử. Vì dân nên căm ghét đến độ tương bầm gan tím ruột, đến mức căm thù ghét cay ghét đắng ghét vào tận tâm). Vì dân nên thương những bậc tài năng đức độ tha thiết phụng sự cho đất nước mà rốt cuộc đều bị uổng phí tài năng. Tình yêu thương con người, tình yêu nhân dân đã trở thành thước đo để bình xét, đánh giá và bộc lộ cảm xúc.
- Mối quan hệ khăng khít của hai mặt tình cảm ghét - thương trong trái tim Đồ Chiểu: Hay ghét không phải vì những nỗi niềm riêng tư cá nhân trước cuộc đời. Hay ghét không phải vì không tha thiết lòng thương. Lí giải cho căn nguyên, gốc rễ của tất cả những căm ghét sôi trào là tấm lòng trĩu nặng với cuộc đời: Vì chung hay ghét cũng là hay thương. Ghét chỉ là một biểu hiện khác của tình yêu
thương mà thôi (Có lẽ vì thế mà số lượng các câu thơ nói về thương cũng vượt | trội so với ghét).
- Cứ mỗi lí do ghét là có một câu nói về nỗi khổ của nhân dân: để dân sa hầm sấy hang, để dân lầm than muôn phần, để dân nhọc nhằn, làm rối dân.
- Các vị vua chúa đáng ghét là những vị vua chỉ lo ăn chơi, hoang đâm VÔ độ, lo tranh quyền, đoạt vị mà chẳng nghĩ gì về đời sống khốn khổ, nhọc nhằn, lầm than, cay đắng của nhân dân.
- Nói về lẽ thương, ông Quán hướng đến những con người cụ thể: đó là đức thánh nhân, thầy Nhan Tử, ông Gia Cát, thầy Đồng Tử, người Nguyên Lượng, ông Hàn Dũ, thầy Liêm, Lạc. Đó là những con người có tài, có đức, và nhất là họ đều có chí hướng hành đạo giúp đời, giúp dân nhưng đều không đạt được sở nguyện của mình và xã hội phong kiến không chấp nhận họ.
- Nguyễn Đình Chiểu đã từng ôm ấp hoài bão là hành đạo giúp đời, nhưng cuộc đời nhà thơ lại gặp nhiều bất hạnh, hơn nữa thời đại của ông không cho phép ông thực hiện ước mơ của chính mình. Cho nên trong niềm thương
mình. những bậc hiền tài trên có một phần Nguyễn Đình Chiểu tự thương cho chính
- Trong một đoạn thơ 32 câu tác giả đã liên tiếp sử dụng cặp từ đối nghĩa ghét, thương. 12 lần các nhân vật nhắc đến ghét. Lại chừng ấy lần tha thiết với thương. Thương và ghét được đặt đăng đối, sóng đôi trong nhiều câu: hay ghét - chẽ, mạch lạc cho đoạn thơ. hay thương, thích say mê của nhân dân miền Nam với sáng tác Đồ Chiểu. Lối dieu dat tu tung
điệp, tăng tiến còn cho thấy sự mãnh liệt của cường độ cảm xúc. Ghét đen tăm giận và yêu thương đến độ nồng nhiệt. Chúng ta có thể thấy điều này ngay trong một câu thơ: Ghét cay ghét đắng ghét vào tận tâm. Tác giả Nguyễn Quốc Tuý đã bình: “Từ cái ghét có vị cay, sang cái ghét có vị đắng, đến cái ghét có độ sâu của lòng người: “ghét vào tận tâm”. Với cách diễn đạt tăng cấp này, Nguyên Đình Chiểu cho bạn đọc biết cái ghét của ông Quán đã đổi gam, đổi chất, cái gọi là ghét của ông Quán thực ra là lòng căm thù”.
Ngoài Soạn bài Viết bài làm văn số 2: Nghị luận văn học, để học tốt Ngữ Văn lớp 11 hơn, hãy đọc thêm những bài viết như Soạn bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, tác giả cũng như Soạn bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, tác phẩm nằm trong phần soạn bài SGK Ngữ Văn lớp 11
2. Đề 2: Hình ảnh thực và ý nghĩa biểu tượng về con người đi trên bãi cát trong bài thơ Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Sa hành đoản ca) của Cao Bá Quát?
Gợi ý làm bài .
- Cao Bá Quát, nhà Nho kiêu hùng, không chấp nhận sự hòa mình vào những lối sống cũ rích, vô nghĩa, không chịu theo đuổi danh lợi để đánh mất giá trị cao quý của đạo làm người.
- Tinh thần đó hiện hữu rõ ràng trong bài thơ Bài ca ngắn đi trên bãi cát. a) Hình ảnh thực
- Cao Bá Quát thường xuyên hành hương đến Huế. Hành trình từ Hà Nội, qua nhiều tỉnh miền Trung như Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng | Trị, là những vùng có nhiều bãi cát trắng bồng bềnh. Hình ảnh những bãi cát dài ven biển miền Trung, cùng sóng biển và núi, là những hình ảnh sống động, được tác giả đưa vào bài thơ.
- Vùng đất này hẹp hòi, một bên núi, một bên biển, du khách có thể cùng một lúc ngắm nhìn cả hai, vì vậy trong bài thơ, những hình ảnh như Bãi cát với cát trắng dài, Trèo non, Lội suối, Giận khôn với... là những hình ảnh thực.
b) Hình ảnh biểu tượng
- Hình ảnh con đường nằm trên một bãi cát dài rộng lớn, mịt mù, khó xác định rõ hướng đi. Đó là hình ảnh của cuộc hành trình trong đời, mịt mù, Muốn tìm ra chân lí, ý nghĩa cuộc sống cần vượt qua vô vàn khó khăn, thử thách.
Tìm hiểu nội dung Soạn bài Tự tình là một phần quan trọng của chương trình Ngữ Văn lớp 11, đòi hỏi sự chú ý đặc biệt từ các em.
Ngoài ra, Soạn bài Hạnh phúc của một tang gia là một yếu tố quan trọng trong chương trình Ngữ Văn 8, đề xuất các em cần tập trung đặc biệt vào nội dung này.
Bên cạnh những kiến thức đã học, hãy chuẩn bị cho bài học sắp tới với phần Soạn bài Phong cách ngôn ngữ báo chí để hiểu rõ hơn về Ngữ Văn 11.
