Kết hợp các điểm cố, điểm tích (in đậm) ở phần A với nguồn gốc và ý nghĩa ở phần B:
Câu hỏi 1
Trả lời Câu hỏi 1 trang 45 SGK Ngữ văn lớp 9 Cánh diều
Kết hợp các điểm cố, điểm tích (in đậm) ở phần A với nguồn gốc và ý nghĩa ở phần B:
|
A. Điển cố, điển tích |
B. Nguồn gốc và nghĩa |
|
a) Giường kia treo cũng hững hờ, (Nguyễn Khuyến) |
1) Điển tích, lấy từ chuyện xưa bên Trung Quốc: “Vua Hán Vũ Đế kén phò mã, cho công chúa ngồi trên lầu ném quả cầu xuống, ai cướp được thì được làm phò mã". Câu thơ mượn chuyện này để ngụ ý: Cha mẹ Thuý Kiều mong muốn gả con vào nơi xứng đáng. |
|
b) Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn. (Nguyễn Khuyến) |
2) Điển tích, dẫn theo chuyện xưa: "Trần Phồn thời hậu Hán (Trung Quốc) sắm chiếc giường dành riêng cho người bạn thân là Từ Trĩ. Khi bạn đến chơi thì mang ông xuống, khi bạn về thì lại treo cất đi. |
|
c) Một hai nghiêng nước nghiêng thành, / Sắc đành đòi một tài đành hoạ hại (Nguyễn Du) |
3) Điển tích, lấy từ chuyện xưa: "Tương truyền Bá Nha và Chung Tử Kỳ là hai người bạn tri âm, sống vào thời Xuân Thu, Chiến Quốc (Trung Quốc xưa). Bá Nha chơi đàn giỏi. Tử Kỳ nghe tiếng đàn của Bà Nha mà như hiểu thấu tâm can của bạn. Sau khi Tử Kỳ chết, Bá Nha đập bỏ đàn vì cho rằng trên đời không còn ai hiểu được tiếng đàn của mình nữa". |
|
d) Nuôi con những ước về sau/ Trao tơ phải lứa, gieo cầu đáng nơi. (Nguyễn Du) |
4) Điển cố, lấy từ bài ca của Lý Diên Niên (Trung Quốc): "Nhất cố khuynh nhân thành, tái cố khuynh nhân quốc (Ngoảnh lại một cái làm xiêu thành trì của người, ngoảnh lại cái nữa làm xiêu nước người). Câu thơ mượn từ ngữ của bài thơ xưa để diễn tả về đẹp của Thuý Kiều. |
Phương pháp giải:
Đọc kỹ tài liệu và tìm hiểu thêm trong sách hoặc trên internet
Lời giải chi tiết:
Phương án 1
1-d, 2-a, 3-b, 4-c
Câu 2
Trả lời Câu hỏi 2 trang 45 SGK Ngữ văn 9 Cánh diều
Dựa vào giải thích trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, giải thích nguồn gốc và ý nghĩa của các điểm cố, điểm tích (in đậm) trong những câu dưới đây:
a) Trải qua một cuộc thăng trầm,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
b) Kể từ lâu nghe tiếng má đào,
Mắt xanh có màng mắt vào không?
Phương pháp giải:
Tìm hiểu ngoài SGK, đọc kỹ chú thích trong tác phẩm
Lời giải chi tiết:
Phương án 1
a, Hình ảnh bể dâu trong câu thơ được nhà thơ lấy ý từ câu chữ Hán: Thương hải biến vi tang điền (Bể xanh hóa thành ruộng dâu). Đó chính là hình ảnh của sự thay đổi, sự biến chuyển nhanh chóng ngay trước mắt chúng ta.
b, Nguyễn Tịch, người đời nhà Tấn (265- 419) là người rất thích rượu và đàn. Làm quan rồi cáo bệnh về nhà, kết bạn cùng Kê Khang, Lưu Linh, Nguyễn Hàm, Sơn Ðào, Hướng Tú và Vương Nhương, thường gọi là 'Trúc lâm' thất hiền' (bảy người hiền trong rừng trúc). Nguyễn Tịch lại còn có một thái độ lạ lùng. Khi tiếp khách, nếu khách thuộc hạng người ông thích, ông vừa lòng thì nhìn thẳng để lộ tròng mắt xanh; trái lại tiếp người ông không ưa thích thì ông nhìn ngang (lườm) để lộ lòng mắt trắng. Thái độ đãi nhân tiếp vật như thế kể cũng không hay ho gì. Nhưng dần về sau, người ta dùng chữ 'mắt xanh' để chỉ sự bằng lòng, vừa ý. Cũng như câu hỏi của Từ Hải 'mắt xanh chẳng để ai vào có không' tức là nàng chưa tiếp ai bằng mắt xanh, có nghĩa là nàng chưa thấy ai là người vừa ý vừa lòng phải không?
Phương án 2
Trả lời Câu hỏi 3 trang 45 SGK Văn 9 Cánh diều
Tìm trên sách, báo (hoặc Internet) câu chuyện về Tái Ông mất ngựa. Viết một đoạn văn (khoảng 10 – 12 dòng) tóm tắt câu chuyện và phân tích ý nghĩa của điển tích “ngựa Tái Ông'.
Phương án giải:
Tìm hiểu ngoài SGK, trong sách báo hoặc Internet
Giải thích chi tiết:
Cách tiếp cận 1
Có một ông lão xưa xưa ở miền biên giới Bắc Trung Hoa, tên là Tái Ông, nổi tiếng với nghề nuôi ngựa. Một ngày, ngựa của ông bỏ trốn sang nước Hồ gần đó. Hàng xóm đến động viên nhưng ông chỉ cười và nói: “Mất ngựa có thể là điều tốt.” Vài tháng sau, con ngựa trở về với một con ngựa hoang. Khi mọi người mừng, ông lại lo lắng: “Có thể đó không phải là điềm lành.” Con trai ông gặp tai nạn khi cưỡi con ngựa hoang, nhưng ông vẫn không buồn: “Tai nạn này có thể không phải là điều không may.” Sau đó, nước Hồ láng giềng xâm lược, nhưng con trai ông vì tàn tật mà được thoát chết. Hàng xóm mới hiểu ra ý nghĩa sâu xa của lời ông.
Thành ngữ “Tái Ông thất mã” dùng để an ủi những người gặp khó khăn. Nó nhắc nhở rằng sự thay đổi có thể mang lại phúc, và ngược lại. Cũng giống như câu nói “trong cái rủi có cái may”, mọi chuyện đều có nguyên nhân và không nên đánh giá theo bề ngoài. Điều quan trọng là phải thuận theo tự nhiên, không nên vội vàng, và không nên nản lòng khi gặp khó khăn.
