
Có thể dự đoán vụ tấn công ngày 11/9 từ 5 năm trước?
'Ở Trung Đông, một số thanh niên mặc quần jeans, uống Coca-Cola, nghe nhạc Rap, và giữa các lần quỳ xuống hướng về Mecca, họ sẽ cài bom làm nổ tung máy bay Mỹ'- Lời tiên đoán đầy ám ảnh của Samuel P. Huntington, một nhà khoa học chính trị nổi tiếng người Mỹ, dường như đã tiên đoán trước vụ tấn công 11/9/2001, gây sốc cho thế giới. Sự việc này đã làm dấy lên câu hỏi về nguyên nhân khiến hai chiếc máy bay thuộc nhóm Hồi giáo đâm vào tòa nhà cao nhất của Mỹ. Câu trả lời nằm trong“Sự va chạm giữa các nền văn minh và việc tái lập trật tự thế giới”, một trong những cuốn sách đình đám nhất trong sự nghiệp của ông. Dù được viết từ năm 1996, nhưng nó đã dự báo đúng nhiều vụ đụng độ và biến động chính trị toàn cầu.
Văn minh sẽ là quyền lực định đoạt trật tự thế giới mới
Tại sao sau tất cả, Đông Đức và Tây Đức lại hòa nhập với nhau? Tại sao Liên Xô lại tan rã? Tại sao Ukraine và Ấn Độ lại rối ren?
Huntington đã giải đáp, trong trường hợp đầu tiên, đó là các xã hội bị chia rẽ bởi tư duy hệ nhưng lại được liên kết bởi văn hóa. Ngược lại, trong các trường hợp sau đó, đó là các xã hội được kết nối bởi tư duy hệ hoặc hoàn cảnh lịch sử nhưng lại bị chia rẽ bởi văn hóa. Ông khẳng định:Trong thế giới mới, văn hóa sẽ thay thế tư duy, chính trị và kinh tế để trở thành nhân tố quyết định ảnh hưởng đến các mối quan hệ toàn cầu.
Văn hóa và đặc điểm văn hóa, trong phạm vi rộng lớn nhất là các nền văn minh, theo Huntington, đang hình thành các mô hình kết nối, tan rã và xung đột trong thế giới sau Chiến tranh Lạnh: “Trong thế giới mới này, những cuộc xung đột cực kỳ quan trọng và nguy hiểm nhất không phải là giữa các tầng lớp xã hội, giữa giàu và nghèo, hoặc giữa các nhóm được phân biệt bởi kinh tế, mà là giữa các dân tộc thuộc các thực thể văn hóa khác nhau”.
Văn minh đại diện cho cấp độ cao nhất của văn hóa. Theo Huntington, “Một nền văn minh là tổ hợp văn hóa cao nhất của một cộng đồng con người, và là cấp độ lớn nhất của đặc điểm văn hóa, phân biệt con người với các loài khác. Nó được xác định bởi những yếu tố chung như ngôn ngữ, lịch sử, tôn giáo, phong tục, thể chế, và bởi sự nhận thức bản thân của con người”. Ông cho rằng hiện nay có khoảng bảy hoặc tám nền văn minh lớn, bao gồm:Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Hồi giáo, Kitô giáo, Phương Tây, Mỹ Latinh, và (có thể là) Châu Phi.
Ông phân loại mối quan hệ giữa các nền văn minh thành ba giai đoạn:
Chống đụng (trước năm 1500): Bị cách ly bởi thời gian và không gian, các nền văn minh hầu như không giao lưu với nhau (ngoại trừ một số ít trường hợp); hoặc có những cuộc đụng đầu hạn chế hoặc ngắt quãng nhưng rất căng thẳng.
Tác động (cùng với sự nổi dậy của phương Tây): Các cuộc đụng đầu đa chiều giữa các nền văn minh nhường chỗ cho tác động áp đảo và ổn định, có tính một chiều của phương Tây đối với tất cả các nền văn minh khác.
Tương tác - Hệ thống đa văn minh (Thế kỷ 20): Sức mạnh của phương Tây suy giảm so với các nền văn minh khác. “Sự mở rộng của phương Tây kết thúc” và “sự phản kháng chống lại phương Tây bắt đầu”. Mối quan hệ giữa các nền văn minh đã chuyển từ giai đoạn chịu ảnh hưởng một chiều của một nền văn minh chi phối tất cả các nền văn minh khác sang giai đoạn có nhiều tương tác đa chiều, kéo dài và căng thẳng của tất cả các nền văn minh.
Phương Tây đang suy giảm
Khi Huntington viết cuốn sách, Liên Xô mới sụp đổ. Liên Xô là thách thức duy nhất đối với phương Tây vào thời điểm đó, nên những người lạc quan tin rằng thế giới sẽ “đồng lòng” từ nay trở đi – được hình thành bởi mục đích, ưu tiên và lợi ích của các quốc gia phương Tây chủ đạo. Điều này đúng, nhưng chỉ có hiệu lực trong một khoảng thời gian nhất định. Phương Tây sẽ giảm sút, và theo ước tính của Huntington, quá trình này sẽ mất khoảng 400 năm, tương đương với thời gian phát triển của các cường quốc phương Tây.
Phương Tây đã lan truyền văn hóa của mình tới khắp nơi trên thế giới hiện đại thông qua chủ nghĩa thực dân trong thế kỷ 19 và sự ảnh hưởng của Mỹ trong thế kỷ 20. Khi chủ nghĩa thực dân tan rã và quyền lực của Mỹ giảm bớt, văn hóa phương Tây bắt đầu suy thoái. Các nước phương Tây cũng đang đối mặt với vấn đề nội bộ và phân rã xã hội; trong khi các xã hội phi phương Tây - ngày càng hiện đại hóa và trở nên mạnh mẽ về mặt kinh tế - đang tự khẳng định bản sắc và đối đầu với các giá trị phương Tây.
Quá trình này, mà Huntington gọi là “bản địa hóa”, đang diễn ra toàn cầu và thể hiện rõ qua sự trỗi dậy của tôn giáo - “Sự trả thù của Chúa”, theo Gilles Kepel.
“Chúa đã chết” do các quá trình hiện đại hóa xã hội, kinh tế và văn hóa; nhưng cũng chính những quá trình này lại là nguyên nhân của “Chúa tái sinh”. Những biến động trong tâm lý, tình cảm và xã hội, kết hợp với sự giảm sút của phương Tây và sự kết thúc Chiến tranh Lạnh, đã gây ra “khủng hoảng bản sắc” cho con người, và họ tìm đến tôn giáo để có “cảm giác về bản sắc và hướng đi trong cuộc đời” (Hassan al-Turabi). Lập luận này đang chứng minh đúng trong tình hình hiện tại, khi phụ nữ ở các quốc gia Hồi giáo từng giải phóng (và đang đấu tranh để giải phóng) đang quay lại... thực hiện che mặt; và ở Trung Quốc, phong trào phục hồi Nho giáo đang trở nên mạnh mẽ hơn từng ngày.
Châu Á và Hồi giáo đang mạnh mẽ trỗi dậy
Trong số các nền văn minh hiện đại, hai nền văn minh có khả năng xung đột nhiều nhất với phương Tây là văn minh Trung Quốc và văn minh Hồi giáo. Cả hai đều là những nền văn minh lớn và mạnh mẽ đang trỗi dậy trong thời gian gần đây.
Đất nước của Nhật Bản, Trung Quốc và bốn cánh cổng (Hong Kong, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore) thuộc nền văn minh Trung Hoa - nhờ sự hiện đại hóa thành công và sự phát triển kinh tế vượt bậc - đã bắt đầu tự tin vào bản sắc của mình. Đặc biệt là khi so sánh với tốc độ tăng trưởng khiêm tốn của kinh tế Âu - Mỹ cũng như sự trì trệ của phần lớn nền kinh tế thế giới, các quốc gia này nhận ra rằng 'hiện đại hóa' không nhất thiết phải đi đôi với 'Tây phương hóa'. Điều này thúc đẩy họ tìm lại các giá trị truyền thống để có thể tự hào tuyên bố 'Tôi là ai' trước phương Tây.
Trong khi sự tự tin của châu Á có nguồn gốc từ sự phát triển kinh tế, sự tự tin của các quốc gia Hồi giáo lại bắt nguồn từ sự gia tăng dân số và các phong trào xã hội. Các quốc gia này bắt đầu đảo ngược mối quan hệ phụ thuộc và sự ảnh hưởng của phương Tây vào thập kỷ 1970, khi giá dầu tăng mạnh. Sau đó, áp lực từ giá dầu mỏ cũng dần giảm đi trong thập kỷ 1980, nhưng tăng dân số vẫn tiếp tục là một động lực khác. Thêm vào đó là sự khủng hoảng bản sắc. Tất cả dẫn đến sự Hồi sinh của Hồi giáo, mà theo lập luận của Huntington, nó 'thể hiện sự chấp nhận của hiện đại, phản đối văn hóa phương Tây, và tái khẳng định lòng trung thành với Hồi giáo như một hướng dẫn cho cuộc sống trong thế giới hiện đại'.
Tuy nhiên, ông cũng dự đoán rằng sự bùng nổ kinh tế châu Á cũng sẽ suy giảm vào đầu thế kỷ 21 và sẽ duy trì ở mức 'bình thường' trong nền kinh tế phức tạp. Đối với cộng đồng Hồi giáo, trong những thập kỷ thứ hai và ba của thế kỷ 21, áp lực từ dân số sẽ giảm dần và các phong trào Hồi sinh cũng sẽ dần phai nhạt. Do đó, mối quan hệ giữa cộng đồng Hồi giáo và phương Tây, mặc dù vẫn không thân thiện nhưng sẽ ít xung đột hơn, và cuộc chiến tranh lạnh có thể thay thế cho cuộc chiến tranh nửa vời, thậm chí là hòa bình lạnh.
Chính trị toàn cầu đang được tái định hình dựa trên các nền văn hóa
Trong thế giới mới, không ai có thể kiểm soát được sức mạnh toàn cầu, và một thế giới đại đồng nhất chỉ là một ước mơ xa xỉ. Thế giới mới vẫn sẽ có xung đột, và những xung đột này bắt nguồn từ văn hóa, nằm ở những điểm đứt gãy giữa các nền văn minh. Tương tự, các liên kết. Các dân tộc và quốc gia có các nền văn hóa tương đồng sẽ tụ hợp với nhau. Các dân tộc và quốc gia có các nền văn hóa khác biệt sẽ cách ly với nhau. Những mối liên kết được thiết lập dựa trên hệ tư duy và các mối quan hệ siêu cường đang nhường chỗ cho những mối liên kết dựa trên cơ sở văn hóa và văn minh.
Huntington đề xuất một cấu trúc cho mỗi nền văn minh bao gồm một (hoặc nhiều) quốc gia hạt nhân, được bao quanh bởi các vòng tròn đồng tâm. Các quốc gia thành viên, các dân tộc thiểu số có nền văn hóa tương đồng với các quốc gia lân cận, và thậm chí cả những dân tộc thuộc các nền văn hóa khác ở các nước láng giềng sẽ nằm trên các vòng tròn này - tương ứng với mức độ tương đồng và hội nhập của họ vào khối văn minh đó. Ông cho rằng mô hình này đúng với mọi nền văn minh trừ Hồi giáo - vì không có quốc gia hạt nhân nào được công nhận nên chỉ phát triển một cấu trúc chính trị duy nhất và còn sơ khai.
Theo ông, các quốc gia hạt nhân là nền tảng của trật tự bên trong các nền văn minh và giữa các nền văn minh thông qua sự thương lượng với các quốc gia hạt nhân khác.
Huntington sử dụng lý thuyết này để phân tích quan hệ của một số quốc gia hạt nhân với nền văn minh chứa chúng, như Nga và các nước láng giềng, Trung Quốc đại lục và khu vực thịnh vượng chung, và cả thế giới Hồi giáo. Ông cũng xác định biên giới phương Tây - Nước nào nên được coi là thuộc về châu Âu, và do đó là những thành viên tiềm năng của Liên minh châu Âu, NATO và các tổ chức tương tự.
Một điều đáng chú ý là quan điểm của ông về ASEAN: “Là một tổ chức quốc tế đa văn minh, ASEAN có thể phải đối mặt với những thách thức ngày càng tăng về việc duy trì sự đoàn kết của mình.”
Hồi giáo và Trung Quốc có thể hợp tác để chống lại ảnh hưởng của phương Tây
Huntington dự đoán và mô tả những xung đột sẽ diễn ra giữa các nền văn minh. Ông cho rằng các mối quan hệ giữa các nền văn minh sẽ thay đổi đa dạng, từ lạnh nhạt đến xung đột, với hầu hết rơi vào một nơi giữa hai loại. Về xung đột, sẽ có hai hình thức: (1) Ở mức địa phương hoặc vi mô, là các xung đột nơi đường giao thoa của các nền văn minh (giữa các quốc gia hoặc ngay trong cùng một quốc gia); đặc biệt phổ biến giữa người Hồi giáo và người phi Hồi giáo. (2) Ở mức toàn cầu hoặc vĩ mô, là các xung đột giữa các quốc gia hạt nhân, nảy sinh giữa các quốc gia lớn thuộc các nền văn minh khác nhau.
Huntington dành chương cuối để thảo luận về mối quan hệ giữa phương Tây và phần còn lại của thế giới. Ông cho rằng Hồi giáo và Trung Quốc là hai nền văn minh có thể có những xung đột căng thẳng nhất với phương Tây, và có thể hợp tác hoặc liên minh với nhau để đối đầu với kẻ thù chung là phương Tây. Các nền văn minh còn lại thì hoặc phụ thuộc một phần vào phương Tây, hoặc “lung lay giữa một bên là phương Tây, và bên kia là các nền văn minh Hồi giáo và Trung Quốc”.
Ba lĩnh vực chia rẽ phương Tây với phần còn lại của thế giới, theo Huntington là: (1) không phổ biến và chống phổ biến vũ khí, cũng như chuyển giao vũ khí, (2) gây áp lực lên các xã hội khác về vấn đề dân chủ và nhân quyền, (3) hạn chế số lượng người phi phương Tây nhập cư hoặc tị nạn vào xã hội phương Tây. Các nước phương Tây xem đây là những nỗ lực nhằm duy trì ưu thế quân sự; thúc đẩy các giá trị và thể chế chính trị phương Tây; bảo vệ sự đồng nhất về văn hóa, xã hội và sắc tộc. Còn các nước phi phương Tây xem đây là những “âm mưu” của phương Tây – đặc biệt là của Hoa Kỳ - nhằm lan tràn nền văn hóa phương Tây trên toàn thế giới.
Tổng kết, Huntington nói về những thách thức mà phương Tây đang phải đối mặt, và liệu chúng có thể làm suy yếu quyền lực của phương Tây hay không. Những thách thức đến từ bên ngoài bao gồm những nền văn minh mới nổi lên đang càng ngày càng tự tôn và chống đối phương Tây. Những thách thức từ bên trong bao gồm sự suy giảm về kinh tế, dân số; cao hơn nữa là suy giảm đạo đức, tự sát văn hóa và sự chia rẽ chính trị ở phương Tây. Ông cho rằng, để tiếp tục duy trì quyền lực chính trị toàn cầu, phương Tây cần phải đổi mới để thích ứng với quyền lực và sự ảnh hưởng ngày càng tăng của các nền văn minh khác. Nếu không, phương Tây sẽ mất đi sức mạnh và ảnh hưởng, hoặc xảy ra xung đột với những nền văn minh lớn mạnh khác. Ông nhấn mạnh:
' Trong thời đại sắp tới, những xung đột giữa các nền văn minh là mối đe dọa lớn nhất đối với hòa bình thế giới, và một trật tự quốc tế dựa trên các nền văn minh là biện pháp an toàn nhất để ngăn chặn chiến tranh thế giới. '
“Sự va chạm giữa các nền văn minh” là một cuốn sách mang tính đột phá về tư duy khi xuất bản. Mặc dù gây tranh cãi, nhưng nhiều lập luận của Huntington đã chứng minh đúng khi áp dụng để giải thích nhiều sự kiện diễn ra trong 10 năm qua.
Đỗ Hà/Mytour
