
Tôi đã từng đọc những truyện ngắn lãng mạn, đầy cảm xúc của Thạch Lam như 'Cô hàng xén', 'Tối ba mươi', 'Dưới bóng hoàng lan'... để hiểu tại sao mọi người đánh giá trang văn của ông là những trang thơ ngọt ngào, đẹp đẽ, tinh tế và êm đềm. Tôi cũng từng đọc những bài viết của Nguyễn Tuân như 'Tờ hoa', 'Người lái đò sông Đà'... để hiểu lý do tại sao mọi người đánh giá trang văn của ông là những trang hoa và từ ngữ tinh tế được sử dụng một cách khéo léo. Tuy nhiên, khi đọc truyện ngắn của Nam Cao, chỉ cần với 'Đời thừa' là đủ để hiểu tại sao Nam Cao được coi là nhà văn hiện thực nổi tiếng với nghệ thuật phân tích tâm lý tài ba và trang văn của ông là những trang sách đầy sức sống, sức mạnh đầy sức mạnh.
Dĩ nhiên, có những người vẫn còn thắc mắc và nghi ngờ. Vì hiện thực mà chúng ta đang nói đến ở đây không chỉ là hiện thực của một cá nhân, mà còn là hiện thực của một thời đại, một giai đoạn, một tầng lớp, một giai cấp trong xã hội. Nếu 'Chí Phèo' là tác phẩm xuất sắc viết về đề tài người nông dân Việt Nam trước Cách mạng thì 'Đời thừa' lại là tác phẩm thành công viết về đề tài người trí thức. Điều đặc biệt là người có tri thức trong sáng tác của Nam Cao không chỉ là con người với tất cả những đặc điểm tốt và xấu, cao thượng và hèn mọn. Hai mặt đó đang đấu tranh, vật lộn, dao động và hối hận để hoàn thiện, tạo ra những tác phẩm xuất sắc nhất.
Có người nghĩ rằng: Viết về người có tri thức là Nam Cao đang tiết lộ bản thân, vì vậy dễ viết. Tuy nhiên, nếu chỉ viết về chính mình và viết dễ dàng thì đã có nhiều tác phẩm nổi tiếng. Ở đây, Nam Cao đang viết về bản thân mình, về hiện thực của cộng đồng mình với tất cả những khó khăn và đau đớn. Đặc biệt, nhà văn đào sâu vào những bi kịch tinh thần của họ, qua đó đặt ra những vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn, vượt ra ngoài phạm vi đề tài ban đầu. Hơn nữa, viết về hiện thực của chính mình, của cộng đồng mình mà viết một cách dễ dàng thì không phải là điều đơn giản. Mọi người không muốn tự tiết lộ điều xấu xa của mình, cũng không muốn người khác nói xấu về họ. Vì vậy, để viết một cách chân thực, Nam Cao cần phải là người luôn suy nghĩ, đau khổ giữa cuộc sống và viết lách, phải là người hiểu biết sâu sắc về những tình huống phức tạp, những đau đớn trong tâm hồn con người đang trong quá trình hối hận và hướng tới sự hoàn thiện, và cũng phải là người có tài năng phi thường, có lòng trung thực vô hạn mới có thể diễn đạt một cách xuất sắc tất cả những điều đó.
Từ nhìn lên gặp ánh mắt của Hộ ba lần. Ba lần, Từ muốn nói nhưng lại không dám thốt ra. Hắn đọc quá chăm chú... Từ cảm thấy rụt rè. 'Đời thừa' của Nam Cao đã khởi đầu như vậy. Một cách mở đầu không nhẹ nhàng, không mềm mại mà đầy ngập ngừng ẩn chứa những điều sẽ diễn ra tiếp theo. Hộ là một người trí thức, và cũng là một nhà văn. Sự lựa chọn nghề nghiệp cho nhân vật của Nam Cao cũng thật là đặc biệt, có lẽ không phải là ngẫu nhiên. Có lẽ vì vậy mà Nguyễn Minh Châu đã nói về Nam Cao khi viết về người trí thức là càng thắt mình ra trên giấy để đau khổ, gánh chịu và khổ sở. Văn của Nam Cao không chỉ là văn nữa mà nó là tiếng gọi, tiếng khóc của một tâm hồn bị xé rách. Nó là tâm, là máu, là lệ hóa thân thành những chữ nghĩa (Chu Văn Sơn).
Hộ là một nhà văn! Cũng giống như Điền trong 'Trăng sáng', Hộ là biểu hiện của Nam Cao, là người mang lại những phát ngôn về nghệ thuật viết của người cha sáng lập ra Hộ. Tuy nhiên, không chỉ là bút sắc sảo, sắc lạnh của Nam Cao mà còn là phản ánh của những mâu thuẫn, đau đớn của một con người trong cuộc sống hàng ngày, là bi kịch tinh thần có thể hủy hoại cả cuộc đời, làm hỏng cả nhân cách trong sáng, cao quý. Bi kịch của 'Đời thừa', của Hộ cũng như của những người trí thức chính là bi kịch đó. Hộ bị tiêu diệt những ước mơ tươi đẹp nhất, bị phá hủy dần những tâm hồn tốt đẹp nhất. Bi kịch xảy ra với Hộ không chỉ là bi kịch của một nhà văn mà hơn thế, đó là bi kịch của một con người, là bi kịch mà cảm xúc đấu tranh trong tâm hồn người nghệ sĩ để Hộ phải trải qua một cuộc 'Đời thừa'.
Bi kịch tinh thần đầu tiên mà Hộ gặp phải là bi kịch của một nhà văn. Trước đây, Hộ là một bút kí tự hãnh trên tuyên ngôn nghệ thuật cao cả hơn tất cả, dám hy sinh cho lý tưởng, có ý chí, có hoài bão lớn về nghề nghiệp văn chương và coi sáng tạo như là bản lĩnh của người viết. Đó là thời kỳ Hộ bay bổng trên cánh của ước mơ tới những tưởng tượng đầy triển vọng. Đó là khi Hộ chỉ viết mà chưa thực sự sống. Nhưng bây giờ khi nhập vào cuộc đời của Từ, phải gánh vác cả một gia đình, cuộc sống khổ cực, đã tiêu diệt sự sáng tạo của Hộ. Hộ từng coi thường tiền bạc, coi thường những lo lắng về vật chất, giờ đây tiền bạc làm cho Hộ khốn đốn, tiền bạc đã biến Hộ thành tù nhân, thành nạn nhân từ khi nào. Để nuôi sống gia đình, Hộ phải viết - viết nhiều, viết nhanh và viết không cẩn thận. Đây là mốc thời gian đầu tiên đánh dấu bi kịch của Hộ, là nguyên nhân khiến Hộ tự trách mình. Văn chương, mà Hộ từng coi trọng như tôn giáo của người viết, giờ đây chính Hộ lại biến nó thành phương tiện kiếm sống. Sáng tạo, mà Hộ coi là quyền lợi thiêng liêng của người nghệ sĩ, giờ đây đã trở thành trò chơi, việc làm hàng ngày. Hộ đang trở thành những gì mà anh ta ghê tởm, chán ghét. Hộ đang đánh mất những gì mà anh ta đã kính trọng, tôn vinh. Hộ coi mình là một kẻ đê tiện vì: Sự cẩu thả trong bất kỳ nghề nghiệp nào cũng là không công bằng rồi nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thực sự là đê tiện. Hộ cảm thấy mình là kẻ vô dụng, một người sống thừa. Anh ta tự trách mình, buồn rầu và cảm thấy nhục nhã khi phản bội nguyên tắc và lương tâm của một người viết. Nếu Hộ không tự trách mình, nếu Hộ coi việc đó là bình thường và tìm ra lí do cho hành động của mình là vì gia đình, thì chắc chắn lương tâm của Hộ sẽ không bị đau khổ và Hộ cũng sẽ không rơi vào bi kịch. Một nhà văn chân chính, một nhà văn trẻ tuổi có lý tưởng không tự trách mình, không rơi vào bi kịch thì tác phẩm của Nam Cao cũng không có giá trị và ý nghĩa như ngày nay.
https://Mytour/doi-thua-nam-cao-e189.html
Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở đó thì bút lực của Nam Cao cũng chưa đủ đáng nói và bi kịch nghề văn của người trí thức cũng chỉ là điều quen thuộc. Điều độc đáo và khác biệt khi Nam Cao viết về bi kịch tinh thần của người trí thức là ông đã cho người đọc thấy được bộ mặt tinh thần của người trí thức từ mọi khía cạnh của cuộc sống, vì trước khi là một nhà văn, một nghệ sĩ, họ phải là con người. Và không phải con người kiểu khô khan, tĩnh lặng mà là con người với cuộc sống đa dạng, phức tạp, đầy mâu thuẫn. Có lẽ đó chính là nguồn gốc để cuộc vật lộn không ngừng giữa cái tốt và cái xấu, cái cao quý và cái hèn mọn: lòng khoan dung, tinh thần cao thượng và sự hi sinh... Luôn bị xoay vòng trong tâm trí của người nghệ sĩ và ở 'Đời thừa' là của Hộ.
Để tránh khỏi nỗi đau đớn đầu tiên, Hộ đã tìm thấy sự cứu rỗi trong sự hy sinh. Hy sinh cho gia đình là niềm an ủi cho Hộ. Nếu Hộ tiếp tục theo đuổi ước mơ làm nhà văn, anh sẽ phải từ bỏ gia đình. Điều này sẽ làm cho Hộ không chỉ là một nhà văn mà còn là một người đàn ông. Hy sinh vì gia đình không làm Hộ mất đi danh phận của một nhà văn, nhưng ít nhất là Hộ vẫn là một con người, con người với tình thương và lòng hiếu kỳ. Hộ đã phản đối quan điểm của một triết gia phương Tây về sức mạnh, cho rằng sức mạnh không phải là việc đàn áp người khác mà là việc giúp đỡ người khác bằng chính bản thân mình. Hộ đã làm theo nguyên tắc đó khi giúp đỡ Từ. Từ đã yêu Hộ không chỉ vì tình yêu, mà còn vì lòng biết ơn và lòng trung thành. Hành động của Hộ đã chứng minh anh ta đã tuân thủ nguyên tắc tình thương và khi Hộ quyết định hy sinh cho gia đình, đó là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, khi chọn tình thương gia đình, Hộ đã gặp phải nỗi đau thứ hai, nỗi đau của một con người. Và lần này, cả hai nỗi đau tồn tại trong tâm hồn Hộ đã được Nam Cao mô tả một cách sâu sắc và chính xác.
Hộ tưởng rằng bằng cách hy sinh cho gia đình, anh sẽ có cuộc sống yên bình và ổn định. Nhưng nghiệp văn không tha thứ cho Hộ. Nó không ngừng trỗi dậy trong anh mỗi khi có cơ hội, khiến Hộ phải vi phạm nguyên tắc của mình về tình thương. Có lẽ vì vậy mà nguyên tắc văn chương không tha thứ cho Hộ. Khi thấy một đồng nghiệp thành công, Hộ cảm thấy mình thất bại và vô dụng. Hộ hối hận và đau khổ. Ban đầu, Hộ tìm sự trấn an trong rượu. Nhưng rượu không giúp Hộ, nó chỉ làm tăng thêm đau khổ. Tâm hồn của Hộ, từ một người thánh thiện và yêu thương, đã biến thành một người tàn bạo và tàn nhẫn. Sự thất bại trong việc thực hiện nguyên tắc của mình đã khiến Hộ đổ lỗi cho gia đình, những người mà anh ta đã yêu thương. Nhưng bản chất tốt đẹp trong Hộ vẫn tồn tại, không bị tiêu diệt. Đó chính là lý do Hộ nhận ra được sự thảm hại của bản thân mình.
Hộ khóc. Tiếng khóc của Hộ cuối cùng là một sự thức tỉnh. Hộ khóc với nỗi đau cay đắng và chua xót. Anh khóc với sự vô ích và thất vọng. Anh khóc khi nhận ra bản chất thực của bản thân và cuộc sống của mình. Lương tâm của Hộ đã trừng phạt anh một cách không khoan nhượng. Hộ nghẹn ngào: Anh... chỉ là ... một kẻ... thất bại. Nam Cao tỉnh táo khi viết và khiến nhân vật của mình khóc. Có ai đó từng nói rằng nước mắt là một miếng kính cho thấy tâm hồn của con người. Chính vì vậy mà Hộ đã khóc khi nhận ra sự thảm hại của cuộc sống của mình. Nam Cao kết thúc tác phẩm bằng tiếng ru ai oán. Điều đó là một lời thách thức xã hội. Ông chỉ trích một xã hội không khuyến khích ước mơ và sự hoàn thiện của con người. Một xã hội như vậy không nhân từ. Tên tác phẩm Đời thừa cũng không phải là ngẫu nhiên. Đó là về những con người, những cuộc đời thừa, những tâm hồn bị hủy hoại bởi bi kịch không tìm thấy lối thoát.
Để thoát khỏi nỗi đau đầu tiên, Hộ đã tìm ra sự cứu cánh trong sự hy sinh. Hy sinh vì gia đình là niềm an ủi cho Hộ. Nếu Hộ tiếp tục theo đuổi ước mơ làm nhà văn, anh sẽ phải từ bỏ gia đình. Điều này sẽ khiến Hộ không chỉ là một nhà văn mà còn là một con người. Hy sinh vì gia đình không làm Hộ mất đi danh phận của một nhà văn, nhưng ít nhất là Hộ vẫn là một con người, con người với tình thương và lòng hiếu kỳ. Hộ đã phản đối quan điểm của một triết gia phương Tây về sức mạnh, cho rằng sức mạnh không phải là việc đàn áp người khác mà là việc giúp đỡ người khác bằng chính bản thân mình. Hộ đã làm theo nguyên tắc đó khi giúp đỡ Từ. Từ đã yêu Hộ không chỉ vì tình yêu, mà còn vì lòng biết ơn và lòng trung thành. Hành động của Hộ đã chứng minh anh ta đã tuân thủ nguyên tắc tình thương và khi Hộ quyết định hy sinh cho gia đình, đó là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, khi chọn tình thương gia đình, Hộ đã gặp phải nỗi đau thứ hai, nỗi đau của một con người. Và lần này, cả hai nỗi đau tồn tại trong tâm hồn Hộ đã được Nam Cao mô tả một cách sâu sắc và chính xác.
Nam Cao kết thúc câu chuyện bằng tiếng ru ai oán. Thực tế, đó cũng là một lời chất vấn xã hội. Ông lên án một xã hội không thúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện của con người. Một xã hội như vậy không nhân đạo. Không ngẫu nhiên khi Nam Cao đặt tên cho tác phẩm của mình là Đời thừa. Đó là về những con người, những cuộc đời thừa, những tâm hồn bị hủy hoại bởi bi kịch không tìm thấy lối ra.
Viết về người trí thức, không ai có thể so sánh được với Nam Cao. Người đời đã trao cho ông nhiều danh hiệu, từ mĩ từ đến mĩ cảm khi đọc văn chương của ông. Tuy nhiên, điều chắc chắn nhất là ông đã sống và viết theo nguyên tắc của mình. Cuộc đời và phong cách văn của ông không bao giờ là thừa thãi. Vì vậy, Nam Cao cùng với tác phẩm của mình sẽ mãi sống mãi trong lòng độc giả mọi thời đại.
