Đường hầm Nam Mỹ ở Ecuador vẫn là một bí ẩn không giải mã được và đã được đề cập trong nhiều cuốn sách bí ẩn khác nhau.
Trong phần trước, chúng ta đã thảo luận về những vật thể bí ẩn bên trong đường hầm, và trong phần này, chúng ta sẽ khám phá thêm những bí mật ẩn giấu bên trong 'Đường hầm Nam Mỹ'.
Đầu tiên, 'Đường hầm Nam Mỹ' hay còn gọi là Cueva de los Tayos, nằm ở phía đông dãy Andes, giữa biên giới Morona-Santiago, Ecuador và Peru.

Thổ dân da đỏ Shua thường sử dụng thang dây và đuốc để vào hang động mỗi mùa xuân săn cú dầu, loài chim sống ở đây, và do đó, nó được gọi là 'hang động cú dầu gần sông Coangos'.


Cách sông Santiago 2 km và sông Coangos 800 m, theo đo độ cao GPS năm 2008, đường hầm nằm ở độ cao 539 mét so với mực nước biển, nằm trong một thung lũng khô, với các loại đá chủ yếu là đá vôi mỏng và đá phiến sét.
Lối vào chính của hang là một đường hầm thẳng gọi là 'ống khói', rộng 2 mét, dài 15,6 mét và sâu khoảng 63 mét. Nhóm nghiên cứu chỉ có thể sử dụng dây thừng để đi xuống, và sau đó vào không gian rộng lớn bên trong. Sau khi đi 20 mét về phía đông, một đường hầm nhỏ thẳng đứng cao 5,6 mét xuất hiện, sau khi đi xuống, bạn có thể vào nhóm đường hầm với tổng chiều dài 17,9 km (đoạn được kiểm chứng là khoảng 4,9 km).
János Juan Móricz (Juan Moritz) vào những năm 1960 đến Peru và sau đó Ecuador để tìm kiếm mỏ vàng thay vì nghiên cứu khảo cổ học và nhân chủng học. Ông tập trung vào việc nghiên cứu các mỏ cũ của Đế chế Inca.

Ông phát hiện ra 7 mỏ vàng cũ của Đế chế Inca và thành lập căn cứ gần thị trấn Kambaraza. Được cho là ông đã khám phá 'Đường hầm Nam Mỹ' lần đầu vào năm 1965.
Năm 1968, Moritz viết cuốn sách nhỏ 'Nguồn gốc người Châu Âu đến từ Châu Mỹ', trong đó đưa ra một loạt các tuyên bố giả lịch sử về Âu - Mỹ và mối liên hệ trước Columbus.
Moritz cũng tuyên bố rằng tiếng Zafiki, một ngôn ngữ bản địa trong vùng, thực chất là tiếng 'Hungary' nguyên thủy. Tuy nhiên, ông không cung cấp bất kỳ so sánh hoặc chứng minh nào, và ông đã bị chỉ trích và chế nhạo bởi giới học thuật.
Ông cũng nhận ra rằng lục địa Mu, nền văn minh Indus, nền văn minh Ai Cập và Hungary có tổ tiên chung và bí mật nằm ở dãy núi Andes...
Tháng 7 năm 1969, Juan Moritz khám phá lại 'Đường hầm Nam Mỹ' và tuyên bố phát hiện nhiều vàng, điêu khắc đặc biệt và một thư viện sách kim loại dưới hang động, ông cũng cho rằng đã được chứng nhận bởi chính phủ Ecuador, nhưng thực tế, họ không giúp đỡ nhiều.
Nhà văn Thụy Sĩ Erich von Daniken thăm Moritz vào năm 1972 và viết về hang động trong cuốn 'Vàng của Thần' năm 1973. Ông tin rằng vật thể trong hang động là của một nền văn minh đã mất với sự giúp đỡ của người ngoài hành tinh.

Cuốn sách của Daniken gây ảnh hưởng lớn, kích thích Bảo tàng Anh tổ chức chuyến thám hiểm vào năm 1976 để xác nhận tuyên bố của Moritz.
Chuyến thám hiểm kéo dài ba tuần với hơn 100 người tham gia, kể cả Neil Armstrong, tám nhà thám hiểm Anh điều tra và đưa ra bản đồ chi tiết về hang động.
Mặc dù mô tả của Moritz khớp với một số đặc điểm của hang động, nhưng không có bằng chứng nào cho các tuyên bố của Daniken.

Moritz từ chối các tuyên bố của nhà khoa học nước ngoài, không tiết lộ vị trí thực sự của hang động và từ chối cung cấp bằng chứng.
Các nhà khoa học phát hiện rằng người sống trong hang động có thể bắt nguồn từ thời kỳ đồ đá cũ, và rời khỏi hang vào khoảng 9.000 TCN.
Bắt đầu từ năm 3.000 trước Công nguyên, 'Đường hầm Nam Mỹ' trở thành nơi sinh sống của một nền văn minh mới có thể làm đồ gốm. Đại học Munich đã xác minh điều này bằng phương pháp carbon-14.
Khoảng năm 1.500 trước Công nguyên, người Shua bắt đầu đến khu vực gần hang và sau đó sống chung với dân bản địa. Họ đã ở 'Đường hầm Nam Mỹ' từ năm 500 trước Công nguyên và vẫn hoạt động săn bắn tại đây.

Năm 2012, nhà thám hiểm Yoris Jarzynski xác định rằng hang động hình thành tự nhiên.
Ngày 31 tháng 1 năm 2018, mùa thứ tư của Expedition Unknown đã chứng minh rằng không có 'sách vàng' trong hang động như đã tuyên bố.

Cha Carlos Crespi Croci, người được đề cập trước đó, tiếp tục tồn tại và đã đóng góp nhiều cho Ecuador.

Cha Crespi là một người đa tài - giáo viên, nhà nhân chủng học, nghệ sĩ, nhà thám hiểm, nhiếp ảnh gia và nhạc sĩ, ông đã hỗ trợ nhiều hoạt động nhân đạo ở Ecuador.
Bức tượng của Cha Crespi vẫn đứng trước nhà thờ Maria Osilia Dora, là biểu tượng của sự tôn trọng và lòng biết ơn của cộng đồng địa phương.

Cha Crespi không chỉ giúp đỡ người dân Cuenca, mà còn cố gắng hiểu văn hóa và truyền thống của người bản địa để hỗ trợ họ nhiều hơn.
Nhờ sự cống hiến của Cha Crespi, người bản địa đã tặng ông các món đồ thủ công như lời cảm ơn. Những tác phẩm này đến từ khắp Ecuador và thậm chí cả nước ngoài.
Dù số lượng lớn tấm kim loại được nhắc đến thực tế là bản sao của các di vật cổ, Crespi luôn biết ơn và chấp nhận chúng.
Crespi không đưa tiền cho người nghèo mà không lý do, để tránh làm nhục họ, ông chấp nhận đổi tiền lấy món quà.

Số 'di vật giả' của ông đã lớn hơn 50.000 mảnh và hầu hết chúng được bảo quản tại Nhà thờ Maria Osilia Dora.
Một trận hỏa hoạn vào năm 1962 hủy hoại hầu hết bộ sưu tập của ông, và sau khi ông qua đời, vẫn còn nhiều bí ẩn xoay quanh việc lưu giữ các mảnh vật này.

