Một kỷ nguyên trong thơ (trích từ Thi nhân Việt Nam) mang đến cho người đọc cái nhìn sâu sắc về tinh thần lãng mạn của thơ ca. Nội dung này sẽ được thảo luận trong chương trình Ngữ văn lớp 11.

Hôm nay, Mytour sẽ giới thiệu về tác phẩm và tác giả Hoài Thanh trong văn bản này.
Một kỷ nguyên trong thơ
Nghe đọc Một kỷ nguyên trong thơ:
[...] Hãy bắt đầu tìm kiếm điều quan trọng hơn: tinh thần thơ mới.
Nếu những nhà thơ mới vẫn viết như vậy, chúng ta chỉ biết được một phần của câu chuyện. Nhưng ngay cả Xuân Diệu cũng đã viết:
Người mỹ nhân: chờ đợi dưới bóng cây già;
Tình du khách: thuyền đi không trói buộc.
Với một nhà thơ cũ mô tả cảnh thu, những dòng thơ mang tính giải trí và tinh nghịch như:
Ôi! Cánh cũng thích người nhỉ!
Quên điều gì mà không trầm trồ?
Trong thơ cũ, thường xuất hiện những câu chuyện hài hước, những bài thơ mừng rỡ, những bài thơ khen ngợi, nhưng những nhà thơ mới lại tạo ra những kiệt tác, khiến cho chúng ta hiểu biết nhiều hơn. Tuy nhiên, sự bình thường, sự lố bịch không chỉ thuộc về một thời và để hiểu rõ tinh thần thơ đúng đắn, chúng ta cần so sánh giữa các tác phẩm.
Ta phải thừa nhận rằng thế giới không ngừng thay đổi qua từng thế hệ. Ngày nay đã héo úa từ ngày hôm qua và trong sự mới mẻ vẫn còn tồn tại một phần của quá khứ. Các thời đại luôn tồn tại song song và để hiểu rõ hơn về đặc điểm của mỗi thời đại, chúng ta phải nhìn vào bức tranh tổng thể.
Tất cả tinh thần của quá khứ - hoặc thơ cũ - và hiện tại - hoặc thơ mới - có thể được tóm gọn trong hai từ 'tôi' và 'ta'. Ngày xưa là thời của 'ta', còn bây giờ là thời của 'tôi'. Mặc dù có những điểm tương đồng, nhưng hãy tìm những khác biệt.
Ngày đầu tiên – không ai biết chắc ngày nào – khi chữ tôi xuất hiện trên thi đàn Việt Nam, nó gây choáng váng. Nó tựa như một người lạ lùng giữa xứ lạ. Bởi nó mang theo một quan niệm chưa từng thấy ở đất nước này: quan niệm về cá nhân. Xã hội Việt Nam từ xưa không biết đến cá nhân. Chỉ biết đến cộng đồng: lớn thì quốc gia, nhỏ thì gia đình. Còn cá nhân, bản sắc riêng của cá nhân chìm trong gia đình, trong quốc gia như giọt nước trong biển. Cũng có những tài năng xuất sắc nổi bật. Đôi khi họ cũng ghi hình ảnh họ trong văn thơ. Và đôi khi trong văn thơ họ cũng sử dụng chữ tôi để nói chuyện với người khác. Nhưng dù bướng bỉnh đến đâu họ cũng không dám dùng chữ tôi để nói chuyện với bản thân, hoặc – cũng thế - với tất cả mọi người. Mỗi khi nhìn vào tâm hồn của họ hoặc đứng trước sự phong phú của con người, hoặc họ không tự nhận, hoặc họ trốn sau chữ ta, một chữ có thể ám chỉ nhiều người. Họ phải tìm đến cộng đồng để tránh cô đơn. Chẳng trách gì tác phẩm của họ vừa xuất hiện, cộng đồng đã coi là của chung, thậm chí không thèm ghi tên của họ.
Vì thế, khi chữ tôi, với ý nghĩa tuyệt đối của nó, lần đầu xuất hiện giữa thi đàn Việt Nam, nhiều con mắt nhìn nó một cách khó chịu. Nó luôn đi theo những chữ anh, chữ bác, chữ ông đã gặp khó khăn. Thế nhưng bây giờ nó đến một mình!
Tuy nhiên, qua từng ngày, nó dần mất đi sự lạc loài. Nó trở nên quen thuộc với vô số người. Người ta thậm chí cảm thấy thương cảm với nó. Mà thật ra, nó thật đáng thương!
Thi nhân ngày nay dường như đã mất đi cái kiêu hãnh trước kia. Chữ ta trở nên quá phổ biến với họ. Tâm hồn của họ chỉ vừa đủ để chứa trong khung chữ tôi. Đừng mong tìm thấy ở họ cái phong thái tự do như một thi sĩ vĩ đại như Lý Thái Bạch, chỉ biết làm thơ trong bóng tối. Ngay cả chút tự trọng để khinh thường sự thường nhật, họ cũng không còn nữa:
Đời cay đắng giơ tay vuốt ve,
Không đùa với ấm áp cùng thơ
Chẳng ai biết trong lúc than thở như vậy, Xuân Diệu có nghĩ đến Nguyễn Công Trứ, một đồng hương của mình, người không chỉ làm trò cười với hoàn cảnh nghèo mà còn tìm niềm vui trong hoàn cảnh đó.
Nhưng ta trách gì Xuân Diệu! Xuân Diệu, nhà thơ phản ánh đầy đủ nhất cho thời đại, chỉ nói về sự đau khổ, sự thảm hại của tất cả chúng ta.
Cuộc đời chúng ta đã bị bao quanh bởi chữ tôi. Mất đi chiều rộng, ta phải tìm kiếm sâu hơn. Nhưng càng đi sâu, càng cảm thấy lạnh lẽo. Ta leo lên đỉnh núi cùng Thế Lữ, phiêu lưu trong rừng tình cùng Lưu Trọng Lư, điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta mê mải cùng Xuân Diệu. Nhưng cuộc phiêu lưu đã kết thúc, tình yêu không kéo dài, sự điên cuồng dần tan biến, tình say mê vẫn cô đơn. Ta chán chường quay về tâm hồn cùng Huy Cận.
Dù là hiện thực hay là ảo mộng, trời vẫn luôn theo dõi theo linh hồn của chúng ta.
Hiện thực chưa bao giờ làm cho thơ Việt Nam buồn bã và đặc biệt là sôi động như thế. Với lòng tự trọng, ta đã mất đi cả sự yên bình của quá khứ.
Trong quá khứ, dù bị oan khuất như Cao Bá Nhạ, dù bị bỏ rơi như cô phụ trên bến Tầm Dương, vẫn có thể dựa vào một thứ không thể di dời được. Ngày nay, lớp thành kiến đã tan biến khỏi tâm hồn cùng với lớp hoa hoè phú trên mộ phần. Phương Tây đã trả lại linh hồn của chúng ta cho chính chúng ta. Nhưng chúng ta kinh ngạc khi nhìn vào đó, bởi chúng ta thấy thiếu một điều, một điều quan trọng hơn cả hàng nghìn điều khác: một lòng tin đầy đủ.
Vâng, tất cả những bi kịch đang diễn ra ngầm, dưới bề mặt phù hiệu dễ dãi, trong tâm hồn của giới trẻ.
Những bi kịch đó họ chôn vùi trong tiếng Việt. Họ yêu thương đặc biệt ngôn ngữ đã đồng hành với cha ông trong hàng chục thế kỷ qua. Họ gắn bó tình yêu quê hương trong tình yêu dành cho tiếng Việt. Tiếng Việt, họ tin rằng, là tấm lụa đã chứa đựng linh hồn của những thế hệ trước đó. Bây giờ là lúc của họ, họ muốn mượn tấm lụa ấy để truyền đi những lo âu riêng tư.
Nhưng chính trong sự thất vọng cũng nảy sinh hy vọng.
Chưa bao giờ như bây giờ, họ hiểu rõ hơn câu nói dũng cảm của ông chủ báo Nam phong: “Truyện Kiều vẫn còn, tiếng ta vẫn còn; tiếng ta còn, nước ta còn”.
Chưa bao giờ như hiện nay họ cảm nhận được tinh thần dòng họ cũng như các thể thơ truyền thống chỉ biến đổi mà không bao giờ biến mất.
Chưa bao giờ như hiện nay họ thấy cần phải trở lại quá khứ để níu kéo những điều vĩnh cửu để đảm bảo cho ngày mai.
I. Một số thông tin về Hoài Thanh
- Hoài Thanh (1909 - 1982), tên thật là Nguyễn Đức Nguyên.
- Ông sinh ra trong một gia đình nho gia nghèo nhưng rất yêu nước.
- Quê quán tại xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
- Trong thời đi học, ông đã tham gia vào phong trào yêu nước và bị thực dân Pháp bắt giữ.
- Từ những năm 30 của thế kỷ XX, ông bắt đầu sự nghiệp văn chương.
- Trong tháng 8 năm 1945, ông tham gia vào cuộc khởi nghĩa và trở thành Chủ tịch của Hội Văn hóa cứu quốc tại Huế.
- Sau cách mạng, ông hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực Văn hóa cứu quốc tại Huế.
- Hoài Thanh được coi là nhà phê bình văn học xuất sắc nhất của văn học hiện đại Việt Nam.
- Vào năm 2000, ông đã được nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
- Một số tác phẩm nghiên cứu: Văn chương và hành động (1936), Thi nhân Việt Nam (1942), Có một nền văn hóa Việt Nam (1946), Quyền sống của con người trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du…
II. Giới thiệu về Một thời kỳ trong thơ ca
1. Nguyên nhân phát sinh
- Một thời kỳ trong thi ca là bài luận mở đầu trong cuốn Thi nhân Việt Nam, tổng hợp một cách chi tiết phong trào thơ mới.
- Đoạn trích trong sách giáo khoa nằm ở phần kết thúc của bài luận.
2. Cấu trúc
Bao gồm 3 phần:
- Phần 1: Từ đầu đến “muốn rõ đặc sắc mỗi thời đại phải nhìn vào đại thể”: Nguyên tắc xác định tinh thần thơ mới.
- Phần 2. Tiếp theo đến “để gửi nỗi băn khoăn riêng”: Tinh thần thơ mới với “cái tôi”
- Phần 3. Còn lại: Sự vận động của thơ mới và bi kịch của nó.
3. Tóm lược
Bắt đầu bằng việc nhấn mạnh về những khó khăn trên con đường khám phá tinh thần thơ mới, văn bản của Hoài Thanh cũng nhận biết sự khác biệt giữa thơ mới và thơ cổ. Tiếp theo là phân tích chính về tinh thần thơ mới, tập trung vào khái niệm của “tôi” cá nhân. Sự xuất hiện của “tôi” trở nên lạ lẫm bởi mọi người đã quen thuộc với khái niệm “ta” chung. “Tôi” trở nên rõ ràng qua các tác phẩm của Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử... những nhà thơ đương thời đang gặp khó khăn, mất niềm tin trong bối cảnh xã hội hiện nay. Những nhà thơ mới đã tìm lại niềm tin bằng cách tôn vinh ngôn ngữ Việt Nam. Họ lấy cảm hứng từ quá khứ, từ những kỷ niệm để quên đi nỗi đau hiện tại.
4. Nội dung chính
Một thời đại trong thi ca đã nêu bật những điểm chính của “tinh thần thơ mới”. Lần đầu tiên, khái niệm “chữ tôi với cái nghĩa tuyệt đối của nó” được đưa vào thi ca, đồng thời cũng chỉ ra “cái bi kịch đang diễn ra ngầm trong tâm hồn của giới trẻ” vào thời điểm đó.
5. Nghệ thuật sáng tạo
Lập luận khoa học và chặt chẽ, ngôn từ tinh tế, văn phong sắc sảo…
III. Cấu trúc phân tích văn bản Một thời kỳ trong thi ca
(1) Giới thiệu
Giới thiệu và hướng dẫn về văn bản Một thời kỳ trong thi ca của Hoài Thanh.
(2) Nội dung chính
a. Nguyên lý xác định tinh thần thơ mới
- Đặt ra vấn đề cần thảo luận: tinh thần thơ mới.
- Các nhà thơ mới vẫn sử dụng những hình ảnh quen thuộc từ thơ cổ như Xuân Diệu: “Người phụ nữ xinh đẹp: đợi chờ dưới gốc cây già/Tình yêu lữ khách: thuyền qua không bị buộc chặt”.
- Trong khi đó, thơ cổ lại thường có những dòng văn “vui vẻ và lỏng lẻo”: “Ôi, cảnh đẹp! Có lẽ cảnh cũng yêu thương con người phải không? Ai mà không trầm trồ khi chứng kiến?”
=> Mỗi thời đại đều có những tác phẩm hay và tác phẩm dở.
- Trong thơ, sự tương tác giữa cổ điển và hiện đại vẫn thường xuyên xảy ra.
- Nguyên tắc nhận biết:
- Không tập trung quá mức vào những điểm yếu và nhược điểm của thơ ở từng thời kỳ cụ thể.
- Phải nhìn nhận một cách toàn diện vào bức tranh tổng thể, những ưu điểm của thơ trong mỗi thời đại.
=> Quan điểm này của tác giả được đánh giá là một góc nhìn khách quan, khoa học và biện chứng.
b. Tinh thần mới trong thơ với yếu tố cá nhân “cái tôi”
- Tinh thần của thời xưa - thơ cổ và tinh thần của thời nay - thơ hiện đại có thể được tóm gọn trong hai từ 'tôi' và 'ta'.
- 'Tôi' biểu thị ý thức cá nhân, 'ta' biểu thị ý thức cộng đồng.
=> Hai loại ý thức này tồn tại song song trong tâm hồn của mỗi người. Trước đây, ý thức 'ta' chiếm ưu thế nên ý thức 'tôi' không được phát triển, nhưng ngày nay ý thức 'tôi' đang nổi lên và chiếm quyền sống tự do.
- Hành trình gian khổ, lạc đường, đầy bỡ ngỡ: “Nó như lạc loài nơi đất khách”.
c. Sự chuyển động của thơ mới và bi kịch mà nó gánh chịu
Chữ 'tôi' với ý nghĩa tuyệt đối của nó lại khiến người ta thấy đáng thương bởi:
- Mất hết cái bản sắc từ trước đến nay.
- Cái 'tôi' mang đến cho họ một cảm giác cô đơn và lạnh lẽo, muốn thoát ra nhưng không thể: “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu, càng đi càng thấy lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ… Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận”.
- Thiếu đi lòng tin đầy đủ vào hiện thực, cố gắng tìm cách thoát ra khỏi hiện thực.
(3) Tổng kết
Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản Một thời đại trong thi ca.
