
I. Mở bài:
Thế kỷ XIX là giai đoạn lịch sử của dân tộc ta, đầy đau thương nhưng cũng vĩ đại. Trong thế kỷ đó, có một nhà thơ mù nhưng trái tim sáng như gương, người đã nhìn thấu hết những điều mà nhiều người không thể nhận ra. Đó chính là nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Và, trong văn học Việt Nam, từ Nguyễn Đình Chiểu trở về trước, chưa có một hình tượng dân tộc nào chân thực và đầy cảm xúc như nhà văn nghĩa sĩ trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của ông.
II. Thân bài:
Hoả mai cháy bằng cây rơm, con cúi cũng cháy xong nhà dạy đạo kia. Gươm gắn lưỡi dao phay, cũng đâm gục đầu quan hai kia.
Chi nhọc nhằn quan quản giống trống kì, trống thúc, đạp rào lướt đến, xem giặc như không; không sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn lớn, xô cửa lao vào, mạo hiểm như không có.
Kẻ đâm ngược, người chém ngang, gây ra cảnh tà, ma ám hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, bất kể tàu thiếc, tàu đồng nổ tung.
Cuộc đấu tranh một mất một còn giữa những người nông dân yêu nước và kẻ thù là một cuộc đối đầu không đồng đều. Họ thua cuộc ngay từ đầu khi tự nguyện đứng lên, không có ai tổ chức (ai yêu cầu, ai bắt buộc), không có binh thư, binh pháp. Còn quân thù thì chuẩn bị kỹ lưỡng, có quy mô, quy củ. Họ thua cuộc khi đối diện chỉ có một tấm áo vải, trong tay cầm một cành cỏ, còn kẻ thù lại có tàu sắt, tàu đồng, đạn nhỏ, đạn lớn. Nhưng tinh thần căm thù, lòng yêu nước đã khiến những người nông dân bất kể tàu thiếc, tàu đồng bắn nổ, mạo hiểm như không có ai. Ai cũng biết cái giá cuối cùng của hành động đó. Nhưng nghĩa sĩ nông dân càng hiểu rõ điều đó:
Một giấc mơ thấy chữ hạnh, không khác gì da ngựa bọc thân; trăm năm ngục tử vẫn là chữ quy, không chờ đợi gươm hùm để trao mộ.
Các nông dân trở thành “anh hùng thất thế nhưng vẫn kiêu hãnh” (theo Phạm Văn Đồng). Hình tượng người nông dân nghĩa sĩ lần đầu tiên xuất hiện trong văn học Việt Nam đã mang một hình ảnh rất ấn tượng. Như một tượng đài kiêu hãnh vững chắc, tồn tại qua thời gian để nói với thế hệ sau rằng: “Thác mà trả nước non, danh thơm đồn sáu tỉnh; thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.
III. Kết bài:
Tình đoàn kết, lòng yêu thương và sự kính trọng đã khiến Nguyễn Đình Chiểu khắc hoạ trong tác phẩm của mình hình ảnh người nông dân anh hùng Cần Giuộc. Hình tượng này thể hiện trọng trách nặng nề của một thời kỳ “nước mắt anh hùng lau chẳng ráo” và tấm lòng yêu thương sâu sắc của nhà thơ từ Gia Định – Đồng Nai. Những anh hùng này “sống để đánh giặc, và thậm chí thác cũng đánh giặc”. Và những nhà thơ của họ đã dựng nên tượng đài ấy trong tâm trí của người dân thông qua văn chương.
