
“Khám Phá Đem Đến Bất Ngờ. Trẻ Thơ, Những Đứa Trẻ Sáng Tạo - Bởi Vì Thế Giới Vẫn Còn Rất Nhiều Điều Chưa Khám Phá, Họ Không Thể Bỏ Lỡ - Hiểu Điều Này và Tự Nhiên Cảm Thấy Vui Mừng.”
“Tình Yêu Luôn Mong Ước Sự Dũng Cảm,” Hannah Arendt Viết Trong Tác Phẩm Đầu Tay Về Tình Yêu Và Mất Mát. “Sự Dũng Cảm Chỉ Tồn Tại Trong Sự Bình Yên, Không Bị Lay Chuyển Bởi Những Sự Kiện Dự Kiến Trong Tương Lai... Vậy Nên, Thời Điểm Đúng Là Hiện Tại, Là Ngay Bây Giờ.”
Đó Là Một Quan Sát Tuyệt Vời, Một Sự Thật Cơ Bản Mà Chúng Ta Có Thể Nhìn Thấy - Và Được Ghi Chép Chỉ Bằng Cái Nhìn Lướt - Trong Những Khoảnh Khắc Hiếm Hoi Của Sự Thuần Khiết, Tan Biến Trong Nháy Mắt Trở Thành Những Gì Mà Borges Biết Là Đúng Về Bản Chất Của Con Người: Đó Là Khoảng Thời Gian Mà Bản Chất Của Chúng Ta Được Hình Thành.
Là Những Sinh Vật Được Tạo Nên Bởi Thời Gian, Chúng Ta Sống Ở Hiện Tại, Ở Quá Khứ Và Ở Tương Lai Cùng Một Lúc, Liên Tục Bị Lay Chuyển Bởi Nỗi Sợ Hãi, Niềm Hy Vọng, Tất Cả Các Lo Lắng, Những Dự Đoán. Tất Cả Đều Là Giá Trị Chúng Ta Phải Trả Cho Hành Trình Đồ Sộ Của Mình - Đó Là Chiến Thắng Của Một Ý Thức Có Khả Năng Tham Chiếu Ký Ức Và Kinh Nghiệm Của Nó Trong Quá Khứ, Có Khả Năng Dự Đoán Mục Tiêu Và Mong Muốn Của Nó Ở Tương Lai, Và Có Khả Năng Nhận Thức Cả Nỗi Tuyệt Vọng Sâu Sắc Nhất Và Những Giấc Mơ Sáng Sủa Nhất.
Như Elizabeth Gilbert Nhận Xét Sau Khi Mất Tình Yêu, Lý Do Tại Sao Tình Yêu Và Mất Mát Có Một Sự Tương Đồng - Một Là “Sức Mạnh Không Thể Đoán Trước Hoặc Kiểm Soát,” Còn Một Là “Xuất Hiện Và Biến Mất Theo Cách Không Thể Dự Đoán, Không Theo Kế Hoạch Hay Mong Muốn Của Chúng Ta [và] Sẽ Hành Động Tùy Ý, Bất Kể Lúc Nào Muốn.”
Nhưng Nếu Chúng Ta Đủ May Mắn, Đủ Kiên Định, Khi Chúng Ta Yêu, Rồi Mất, Sự Mất Mát Sẽ Mở Ra Nhiều Tình Yêu Hơn - Mỗi Tình Yêu Luôn Đặc Biệt, Vì Mỗi Tình Yêu Đều Không Thể Lặp Lại Và Cũng Không Thể Thay Thế - Ở Bên Kia Của Đau Khổ; Tình Yêu Không Thể Tưởng Tượng Từ Sự Mất Mát, Một Tình Yêu Không Có Mất Mát, Một Khi Tìm Thấy, Sẽ Làm Thế Giới Trở Nên Kinh Ngạc.
Bởi Vì Đây Là Hai Trải Nghiệm To Lớn Nhất Và Cũng Là Tiêu Tốn Nhất Của Con Người, Những Nhãn Hiệu Mà Chúng Ta Cố Gắng Đặt Cho Chúng Và Phân Loại Chúng Là Quá Nhỏ - Như Trong Tình Yêu, Và Trong Mất Mát. (Đây Là Những Gì Joan Didion Ghi Lại Theo Quan Sát Của Cô Rằng “Đau Khổ, Khi Nó Xảy Ra, Sẽ Không Như Chúng Ta Mong Đợi.”)
Bức Ảnh: Vanish Bởi Maria Popova.Tất Cả Những Điều Này, Cùng Với Sự Tinh Tế Của Chúng, Trở Nên Sống Động Hơn Bao Giờ Hết Trên Các Trang Giấy Của Lost & Found Của Tác Giả Kathryn Schulz - Một Tập Hồi Ký Cá Nhân, Lại Như Một Cuộc Khám Phá Sâu Sắc Về Hai Vũ Trụ Lớn (Được Và Mất) Trong Cuộc Sống Của Con Người.
“Có Lẽ Do Tôi Vẫn Còn Sâu Trong Những Ngày Đầu Tiên Sau Khi Mất Mát, Khi Thế Giới Quen Thuộc Trở Nên Lạ Lẫm Và Khó Chấp Nhận, Tôi Thực Sự Bị Choáng Ngợp, Một Cảm Giác Chưa Bao Giờ Trải Qua, Bởi Sự Kỳ Lạ Của Cụm Từ Này. Rõ Ràng Không Phải Kiểu Cha Tôi Và Tôi Lạc Nhau Trong Một Buổi Dã Ngoại, Hoặc Biến Mất Như Một Tài Liệu Quan Trọng Trong Văn Phòng Lộn Xộn. Khác Với Cách Nói Khác Về Cái Chết, Cách Này Chẳng Có Vẻ Gì Là Thảm Thương Hay Rỗng Tuếch. Nó Có Vẻ Dễ Hiểu, Buồn Bã, Đau Đớn Và Cô Đơn, Như Chính Nỗi Đau Ấy. Ngay Từ Lúc Đầu Tiên Tôi Nói Về Nó, Trong Cuộc Gọi Điện Thoại Của Ngày Hôm Đó, Tôi Cảm Thấy Như Một Công Cụ Có Thể Sử Dụng, Như Cách Một Người Dùng Xẻng Hoặc Một Cái Chuông Báo: Rung Rinh Và Lạnh Lẽo, Với Chút Tuyệt Vọng Và Chút Kiên Nhẫn, Chứ Không Phải Là Sự Bối Rối Và Cô Đơn Khi Mất Đi Người Thân.”
Cuối Cùng Cô Nhận Ra Rằng Từ Gốc Của Từ Này Thực Sự Cũng Là Một Từ Tương Tự Miêu Tả Trải Nghiệm Mất Mát:
Động Từ 'To Lose' Ban Đầu Có Nghĩa Là Chìm Trong Đau Khổ; Liên Quan Đến Từ 'Lorn' Trong 'Forlorn.' Xuất Phát Từ Một Từ Tiếng Anh Cổ Có Nghĩa Là Diệt Vong, Và Xuất Phát Từ Một Từ Thậm Chí Còn Cổ Hơn Có Nghĩa Là Tách Biệt Hoặc Cắt Rời. Mãi Sau Này, Vào Thế Kỷ Thứ Mười Ba, Mới Xuất Hiện Ý Thức Hiện Đại Về Việc Đặt Đồ Nhầm Vị Trí; Một Trăm Năm Sau Đó, 'To Lose' Có Nghĩa Là Không Thắng. Vào Thế Kỷ XVI, Chúng Ta Bắt Đầu “To Lose” Tâm Trí; Đến Thế Kỷ XVII, Tới Lượt Trái Tim Của Chúng Ta. Nói Cách Khác, Vòng Tròn Của Những Gì Chúng Ta Có Thể “To Lose” Vốn Bắt Đầu Với Cuộc Sống Của Mỗi Người Và Không Ngừng Mở Rộng Kể Từ Đó. Cảm Giác Mất Mát Đối Với Tôi Sau Khi Cha Qua Đời: Giống Như Việc Một Thế Lực Không Ngừng Gia Tăng Phạm Vi Hoạt Động, Dần Dần Xâm Chiếm, Mở Rộng Địa Hình.”
Tác Phẩm Nghệ Thuật Từ The Heart and the Bottle Bởi Oliver Jeffers — Một Câu Chuyện Ngụ Ngôn Minh Họa Về Tình Yêu Và Sự Mất Mát
Khía Cạnh Khó Hiểu Nhất Của Đau Buồn Là Bản Chất Phân Đạng Của Nó - Một Thân Cây Vĩ Đại Của Sự Mất Mát, Khi Mà Cành Cây Đâm Vào Thực Tại Tầm Thường, Trở Nên Vụn Vỡ Thành Trăm Mảnh Mất Mát Cho Đến Khi Chúng Ta Nhìn Lại Thế Giới (Như Câu Thơ Đáng Yêu Của Lisel Mueller Đã Nói) 'Như Thể Mọi Thứ Tồn Tại Là Để Mất Đi, Và Vì Mất Đi Mà Trở Nên Quý Giá”. Những Thứ Nhỏ Nhặt Mà Chúng Ta Đánh Mất Trở Nên Quý Giá Đến Mức Chúng Ta Bật Khóc, Vì Cuốn Sách Rơi Khỏi Giỏ Xe Đạp Trên Đường Về Nhà, Cái Cành Cây Tầm Thường Kéo Theo Thân Cây Chẳng Đủ Sức Để Chống Chọi. Đó Là Một Trải Nghiệm Phổ Quát, Mà Schulz Thu Được Thông Qua Thi Pháp Tuyệt Vời Trong Tâm Trí Đặc Biệt Của Cô Ấy:
“Giống Như Một Loại Tình Yêu Bị Rối Loạn Chức Năng, Ở Mức Độ Nào Đó, Đau Buồn Không Có Ranh Giới; Hiếm Khi Trong Lúc Khó Khăn, Tôi Có Thể Phân Biệt Được Nỗi Đau Khổ Của Mình Với Những Mất Mát Trong Nỗi Buồn Về Cha Mình.
[…]
Đây Là Bản Chất Tham Lam, Thiết Yếu Của Sự Mất Mát: Không Phân Biệt, Nó Bao Gồm Cái Thông Thường Và Hệ Quả, Cái Cụ Thể Và Cái Trừu Tượng, Đơn Giản Là Sai Chỗ Và Sẽ Biến Mất Vĩnh Viễn. Chúng Ta Thường Sẽ Ngó Lơ Phạm Vi Thực Sự Của Nó Nếu Có Thể, Nhưng Trong Khoảng Thời Gian Sau Khi Cha Tôi Qua Đời, Tôi Không Thể Ngừng Nhìn Vào Hiện Thực, Mọi Nơi Đều Là Dấu Vết Của Những Mất Mát Trong Quá Khứ Và Tương Lai Trước Mắt.”
Cô Ấy Trải Qua Nỗi Đau Cũng Vào Thời Điểm Mà Tất Cả Chúng Ta, Bất Kể Bản Chất Của Sự Mất Mát Cá Nhân Đó Là Gì, Đang Cùng Nhau Vượt Qua Cái Mà Các Nhà Khoa Học Ngày Nay Gọi Là “Đau Buồn Sinh Thái” - Chỉ Một Thế Kỷ Rưỡi Sau Khi Sinh Thái Học Ra Đời - Dựa Theo Mô Hình Phân Dạng [Fractal]:
“Bản Chất Của Thế Giới Là Phù Du, Các Sông Băng Và Sinh Vật Trong Hệ Sinh Thái Chỉ Tồn Tại Trong Khoảng Thời Gian Nhất Định, Tốc Độ Nó Thay Đổi Nhanh Như Cách Thời Gian Trôi Đi, Như Thể Những Người Còn Sống Tới Ngày Nay Đã Được Phép Chứng Kiến Sự Đổi Thay Này Từ Góc Độ Bi Thảm Của Vĩnh Hằng. Mọi Thứ Đều Mong Manh, Mọi Thứ Đều Có Vẻ Dễ Bị Tổn Thương; Ý Niệm Về Sự Mất Mát Bủa Vây Tôi, Một Sự Tồn Tại Bị Ẩn Dấu Mà Chỉ Xuất Hiện Khi Ta Đau Buồn.
Những bông hoa dại được ép từ vườn thảo mộc của Emily Dickinson, bao gồm cả những loài đang có nguy cơ tuyệt chủng hoặc đã tuyệt chủng.
Khi mọi thứ bất ngờ trở nên mong manh - hay đúng hơn, khi mất mát bất ngờ cho ta thấy rằng chúng ta là “loài sinh vật dễ tổn thương” - nỗi đau biến thành một loại keo cố gắng gắn kết những mảnh vỡ của thế giới quen thuộc. Trong một đoạn văn sâu sắc và nhạy cảm hiếm có về những khía cạnh nghịch lý và bị suy diễn nhiều nhất của sự mất mát, cô ấy viết:
“Tôi nghĩ rằng hầu hết mọi người đều có chút sợ hãi khi không còn đau buồn. Tôi biết vì tôi đã từng. Dù nỗi buồn của chúng ta khủng khiếp đến mức nào, chúng ta hiểu rằng nó được tạo ra từ hình ảnh của tình yêu, có những đặc điểm giống người mà chúng ta thương tiếc. Có thể có một ngày bạn quỳ gối trước một chiếc mũ lưỡi trai xanh đã phai màu, một chiếc túi đầy dụng cụ đan móc hay âm thanh của bản concerto piano của Brahms… Vậy nên, một phần của nỗi đau lại trở nên hấp dẫn vì nó mang lại điều mà cuộc sống không còn: một sợi dây kết nối cảm xúc mạnh mẽ với người đã khuất. Và do đó, dễ thấy rằng khi món quà ảm đạm đó không còn, người ta yêu thương bằng cách nào đó cũng ra đi thêm lần nữa (như câu: một người chỉ thật sự mất đi khi không còn ai nhớ về họ).
Suy nghĩ về việc những mất mát sâu sắc nhất khiến ta đau đớn như thế nào “không phải vì chúng trái ngược với thực tế mà vì chúng phơi bày điều đó,” cô ấy bổ sung:
“Một trong nhiều điều mà sự mất mát dạy ta là cách điều chỉnh cảm nhận về quy mô, cho ta thấy thế giới thực sự: rộng lớn, phức tạp và bí ẩn đến mức không gì có thể mất đi lớn hơn - và ngược lại, cũng không có nơi nào nhỏ hơn để điều gì đó có thể mất ở đó… Giống như kinh hãi và đau buồn có mối liên hệ chặt chẽ, mất mát thay đổi kích thước của chúng ta so với môi trường xung quanh ngay lập tức; chúng ta không nhỏ hơn và thế giới cũng không lớn hơn khi một điều quan trọng biến mất.
Chính sự điều chỉnh cảm giác khắc nghiệt về việc trở thành trung tâm, có năng lực và quyền lực đã khiến cho những tổn thất dù nhỏ nhặt cũng trở nên khó chấp nhận. Mất mát là một hành động khiêm nhường. Nó buộc ta phải đối mặt với giới hạn của tâm trí và lý chí: thực tế là ta bất lực trong việc bảo vệ những điều mình yêu thích trước sự thay đổi và ngẫu nhiên. Liminal Worlds của Maria Popova.
Trên hết, nó buộc ta phải đối mặt với giới hạn của sự tồn tại: thực tế là, sớm hay muộn, bản chất của mọi thứ là biến mất hoặc diệt vong.
Điều này đối nghịch với đặc điểm cơ bản nhất của ý thức chúng ta: không thể phân giải sự phủ định của chính nó. Dù cố gắng hết mức trong thực tế ảo của tâm trí, ở một cấp độ sinh vật sâu xa nào đó, chúng ta đơn giản không thể hiểu được thực tế của sự không tồn tại, khoảng trống cuối cùng mà Emily Dickinson gọi là 'sự trôi dạt vô hạn.'
Nhật thực toàn phần năm 1878, một trong những bản vẽ thiên văn đột phá của Étienne Léopold Trouvelot.
Vì không gian và thời gian là cái võng mà trong đó mọi thứ tồn tại, nhưng ý thức được tạo thành từ không gian và thời gian và là khung cảnh của trí tưởng tượng, để tưởng tượng sự không tồn tại tuyệt đối của ý thức - của người khác hoặc của chính chúng ta - ta cũng phải tưởng tượng sự vắng mặt hoàn toàn của không gian và thời gian. Sự bất lực của ta trước điều đó được phản ánh rõ rệt trong cách nói về cái chết: 'qua đời', như thể một người được đưa đến một nơi nào đó khác chứ không phải hoàn toàn không còn tồn tại; 'hết giờ', như thể thời gian vẫn tồn tại đối với người chết, một chiều không gian mà họ tình cờ bị bỏ quên theo một vectơ dọc chỉ tới nơi khác.
Không có nơi nào không có không gian khác, chỉ là nó nằm ngoài khả năng nhận thức của con người.
Nhận thấy điều này, Schulz định vị bản năng sáng tạo đó trong dòng văn hóa Thung lũng của những điều đã mất - một trong bảy thung lũng mà các nhân vật chính trong tiểu thuyết trẻ em năm 1901 của L. Frank Baum - Dot và Tot of Merryland - ghé thăm sau khi một chiếc thuyền đưa họ rời khỏi Vùng đất xứ Oz. Cô ấy viết:
“Mặc dù nó có nhiều tên gọi khác nhau, Thung lũng của những điều đã mất đã ám ảnh trí tưởng tượng của chúng ta qua nhiều thế kỷ… trong mọi bối cảnh từ tự truyện đến khoa học viễn tưởng.
[…]
Bức họa từ The Osbick Bird của Edward Gorey
Nhưng trong khi Thung lũng của những điều đã mất nằm ở tận cùng của nỗi buồn - “những thứ chúng ta yêu quý bị trục xuất khỏi đó, và bản thân chúng ta cũng bị trục xuất khỏi đó” - thì phản chiếu lại nỗi u sầu là niềm vui sướng tột độ khi tìm thấy mọi thứ. Schulz viết:
“Khám phá ra một điều gì đó luôn là một sự bất ngờ. Trẻ em, những đứa trẻ giỏi tìm tòi – có lẽ vì thế giới vẫn còn quá mới mẻ với chúng nên chúng không thể làm ngơ – hiểu cảm giác này và tự nhiên cảm thấy rất thích thú.” Việc tìm kiếm luôn là một phần thưởng và đôi khi đầy phấn khích: một cuộc hội ngộ với điều gì đó cũ hoặc một cuộc gặp gỡ với điều gì đó mới, một cuộc gặp gỡ vui vẻ giữa chúng ta và một số bí ẩn hoặc điều gì đó từng mất tích trong vũ trụ.
Trong một vùng lãnh thổ nào đó của trí tưởng tượng chung, dường như có một nơi tương tự mà ta có thể gọi là Thung lũng của những điều đã tìm thấy, rải rác những số điện thoại bị lãng quên, những buổi chiều đi dạo, bức ảnh người cha hai mươi tuổi tươi cười bên mẹ tại Biển Đen. Tìm kiếm cũng là một niềm vui cụ thể - niềm vui đơn giản khi tìm thấy thứ đã mất từ lâu, hoặc tìm thấy thứ ta không biết là tồn tại, các nhánh từ niềm vui điều chỉnh lại thực tế rộng lớn và biến đổi hoàn toàn đó. Chúng tôi gọi đó là tình yêu.
Mất mát cũng vậy, tình yêu cũng vậy: Các phép ẩn dụ của chúng ta được dệt nên từ không gian và thời gian, nói lên khả năng không thể suy nghĩ và cảm nhận về nó - chúng ta nói về 'tìm thấy tình yêu', như thể tình yêu được đặt tại một địa điểm khác biệt cho đến khi (và đây là một thước đo thời gian khác) chúng ta tình cờ bắt gặp, điều mà E.E. Cummings đã ghi lại trong một dòng duy nhất: 'tình yêu là một nơi chốn.'
Bức họa từ The Osbick Bird của Edward Gorey
Nửa sau của tác phẩm Lost & Found giống như một bài thiền về việc tìm kiếm điều quý giá nhất trong con người - một cái không bao giờ có thể sở hữu - bởi vì đó là một bức thư tình gửi cho vợ của cô ấy. Kết thúc với một bài thiền tuyệt đẹp về cách những trải nghiệm đồng thời này làm sáng tỏ trung tâm của sự thật trong cuộc sống.
“Đó là tất cả những gì chúng ta có, khoảnh khắc này với thế giới. Khoảnh khắc này không kéo dài mãi mãi, vì không có gì là vĩnh cửu. Entropy, tỷ lệ tử vong, sự tuyệt chủng: toàn bộ kế hoạch của vũ trụ bao gồm sự mất mát, và bất kể chúng ta tìm thấy bao nhiêu trên đường đi, cuộc sống vẫn trở thành một tài khoản tiết kiệm đảo ngược mà cuối cùng chúng ta bị cướp đi mọi thứ. Những ước mơ và kế hoạch và công việc của chúng ta, đầu gối, lưng và những kỷ niệm; chìa khóa nhà, chìa khóa xe hơi, chìa khóa tới vương quốc, và chính vương quốc này: dù sớm hay muộn, tất cả đều trôi vào Thung lũng của những điều đã mất.
Đoạn kết
Tác giả: Maria Popova
———————-
Dịch thuật: Huyền My
Biên soạn: Mỹ Trần
Nguồn ảnh: https://www.themarginalian.org/
Liên kết với bài viết gốc: Losing Love, Finding Love, và Sống Với Sự Mong Manh của Tất Cả
